- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1306/2017/HNGĐ-ST Ngày: 29-9-2017 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Anh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc
Môn.
Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1270/2016/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2016 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 407/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 332/2017/QĐST – HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị C, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: đường P, phường 9, quận G, Tp.HCM
Tạm trú: ấp 5, xã Đ, huyện H, TP.HCM.
2. Bị đơn: Anh P, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: đường P, phường 12, quận G, Tp.HCM
Tạm trú: ấp 5, xã Đ, huyện H, TP.HCM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 09/11/2016 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị C trình bày:
Về hôn nhân: Chị C đăng ký kết hôn với anh P tại Ủy ban nhân dân phường 10, quận P, Tp.HCM vào ngày 13/3/2001 (Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2001/Quyển số 01). Sau khi kết hôn được một thời gian, anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính cách, suy nghĩ và lối sống khác nhau. Trong cuộc sống, anh P không tôn trọng vợ, thường xuyên say xỉn, thiếu trách nhiệm và gây ra nợ nần. Năm 2014 anh chị phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng vợ chồng sống ly thân, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C yêu cầu ly hôn anh P.
Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu B, sinh ngày 08/11/2001 và cháu Q, sinh ngày 04/01/2007. Trường hợp ly hôn, chị C có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng 02 con là cháu B và cháu Q, không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi 02 con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn quyết định đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn nhận định:
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn anh P nên đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn anh P hiện đang cư trú trên địa bàn huyện H, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.HCM thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Anh P (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P.
[3] Về hôn nhân: Chị C và anh P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường 10, quận P, Tp.HCM vào ngày 13/3/2001, do vậy hôn nhân của chị C và anh P là hôn nhân hợp pháp. Nay chị C yêu cầu ly hôn anh P nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết.
Xét thấy giữa chị C và anh P có mâu thuẫn và hai bên đã sống ly thân từ đầu năm 2015 đến nay, trong thời gian vợ chồng sống ly thân hai bên không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Phía chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với anh P. Phía anh P mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo phiên hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ, thông báo kết quả tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện anh P không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Ñöông söï coù nghóa vuï ñöa ra chöùng cöù ñeå chöùng minh maø khoâng ñöa ra ñöôïc chöùng cöù hoaëc khoâng ñöa ra ñuû chöùng cöù thì Toøa aùn giaûi quyeát vuï vieäc daân söï theo nhöõng chöùng cöù ñaõ thu thaäp ñöôïc coù trong hoà sô vuï vieäc”. Như vậy, anh P đã từ bỏ quyền chứng minh của mình. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị C và anh P là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị C là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về nuôi con chung: chị C và anh P có 02 con chung là cháu B, sinh ngày 08/11/2001 và cháu Q, sinh ngày 04/01/2007. Chị C có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con. Xét thấy hiện nay cháu B và cháu Q đang do chị C trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không có ý kiến gì đối với việc nuôi con của chị C. Hơn nữa tại các bản tự khai ngày 17/02/2017 cháu B và cháu Q đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Vì vậy, việc giao cháu B và cháu Q cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng chính đáng của các con. Do đó, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cần giao cháu B và cháu Q cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị C không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi 02 con, do đó tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh P cho đến khi chị C có đơn yêu cầu.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91 và Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa chị C và anh P.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao 02 con chung là cháu B, sinh ngày 08/11/2001 và cháu Q, sinh ngày 04/01/2007 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi 02 con đối với anh P cho đến khi chị C có đơn yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí:
Chị C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 200.000 (hai trăm ngàn) đồng chị C đã nộp theo Biên lai số 0029687 ngày 22/11/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
Tröôøng hôïp quyeát ñònh ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc ñieàu 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKDND H.Hóc Môn; - Chi cục THADS H.Hóc Môn; - UBND phường 10, Phú Nhuận; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh |