- Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Bình P kiện Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Bình P; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2024/HC-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1301/2024/HC-PT Ngày: 24-12-2024 “V/v Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
Ông Nguyễn Văn Khương
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Hữu Trung – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Phước Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 828/2024/TLPT-HC ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2024/HC-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3396/2024/QĐ-PT ngày 02/12/2024 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: ông Lê Bình P, sinh năm 1979. Địa chỉ: E, đường số A, Khu dân cư S, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người bị kiện: Trưởng phòng Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L. Địa chỉ: Số A, Quốc lộ A, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Minh H – Trưởng phòng (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: người khởi kiện ông Lê Bình P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người khởi kiện có nội dung như sau:
Ông Lê Bình P khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC ngày 15/02/2024 về xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L. Buộc Phòng C Công an tỉnh L trả lại Giấy phép lái xe hạng A2, B2 số 790117235388 tên Lê Bình P.
Lý do: Ông P cho rằng ông không vi phạm lỗi chạy quá tốc độ tại thời điểm và vị trí đã nêu trong Quyết định số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC ngày 15/02/2024, cụ thể:
Ngày 29/01/2024 ông Lê Bình P điều khiển xe ô tô biển số 51D-387.15 lưu thông trên Quốc lộ A hướng từ huyện B đi thành phố T, tỉnh Long An. Đến đoạn đường thuộc địa phận huyện T, tỉnh Long An ông P bị Đội Cảnh sát giao thông đường bộ thuộc Phòng C Công an tỉnh L dừng xe lúc 13 giờ 00 phút và được thông báo là vi phạm lỗi chạy quá tốc độ quy định từ 10km/h - 20km/h và bị Đại úy Đặng Quốc B lập biên bản vi phạm hành chính mang số 001132/BB-VPHC và tạm Giữ giấy phép lái xe hạng B2 số 790117235388 (gồm hạng A2 và B2) mang tên Lê Bình P. Ngày 05/02/2024 ông P có đến trụ sở Phòng C Công an tỉnh L để khiếu nại đối với hành vi lập biên bản nêu trên không đúng quy định pháp luật.
Ngày 15/02/2024 Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L là thượng tá Trần Minh H đã ban hành văn bản số 159/CAT-PC08 về việc trả lời đơn khiếu nại của ông P với nội dung khẳng định việc lập biên bản vi phạm hành chính là có cơ sở. Tuy nhiên văn bản 159/CAT-PC08 nêu trên không đính kèm các văn bản, bằng chứng chứng minh việc biên bản vi phạm hành chính được lập đúng quy định pháp luật và để trả lời trực tiếp về các khiếu nại của ông P được nêu trên. Cùng ngày Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC đối với ông P. Xét thấy việc ban hành quyết định nêu trên là thiếu căn cứ, không đúng quy định pháp luật, hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của ông P nên ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC ngày 15/02/2024 về xử phạt vi phạm hành chính. Yêu cầu phòng C Công an tỉnh L trả lại giấy phép lái xe cho ông.
Tại Văn bản số 659/CAT-PC08 ngày 24/4/2024 của người bị kiện Phòng C Công an tỉnh L (Gọi tắt Phòng PC08) trình bày có nội dung:
Phòng PC08 khẳng định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Bình P như sau:
Ngày 29/01/2024 Phòng PC08 đã sử dụng phương tiện đo tốc độ có ghi hình ảnh thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Danh mục I phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ (Ban hành kèm theo Nghị định số 135/2021/NĐ-CP); người sử dụng, vận hành phương tiện đo kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được Cục Cảnh sát giao thông trang bị là cán bộ của Phòng PC08 thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch tuần tra, kiểm soát được phê duyệt theo quy định tại Mục 1, Mục 2 Chương 3 Thông tư số 32/2023/TT-BCA.
Kết quả sử dụng phương tiện đo tốc độ có ghi hình ảnh xác định xe ôtô biển số 51D-387.15 do ông Lê Bình P điều khiển vào lúc 12 giờ 28 phút ngày 29/01/2024 tại đoạn Km 1943 Quốc lộ A, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (hướng TP . - Tiền Giang, toạ độ 10o34,00’35,20”, 106o25,00’51,32”) đã chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h (70/60 km/h) khi qua khu vực đông dân cư có đặt biển báo R.420 và R.421; hình ảnh ghi nhận tốc độ phản ánh khách quan, chính xác, trung thực về hành vi vi phạm, thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm.
Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Bình P đảm bảo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 19 Thông tư số 32/2023/TT-BCA; Điều 58, Điều 66, điểm c khoản 1 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); điểm i khoản 5, điểm b khoản 11 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung tại điểm c, điểm đ khoản 34 Điều 2 Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021).
Ngoài ra, ngày 16/4/2024 ông Lê Bình P đã tự nguyện nộp phạt và nhận lại giấy phép lái xe khi hết thời hạn tước quyền sử dụng theo quy định.
Căn cứ các nội dung nêu trên, Phòng PC08 không có căn cứ hủy quyết định xử phạt số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC ngày 15/02/2024 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Bình P.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2024/HC-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Bình P đối với yêu cầu hủy Quyết định số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC ngày 15/02/2024 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Bình P.
Quyết định số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC ngày 15/02/2024 của Trưởng phòng Phòng Cảnh sát giao thông Long An ban hành đúng quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu Phòng C Công an tỉnh L trả lại giấy phép lái xe hạng A2, B2 số 790117235388 tên Lê Bình P.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/5/2024, người khởi kiện ông Lê Bình P có đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Trong phần tranh luận:
Người khởi kiện ông Lê Bình P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện với lý do: cơ quan Công an không có cơ sở xác định tọa độ chiếc xe nên không có căn cứ để xác định xe vi phạm trong vùng giới hạn tốc độ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa: trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định. Đối với người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: ông P điều khiển xe ô tô quá tốc độ cho phép, trưởng phòng CSGT Công an tỉnh L căn cứ Biên bản vi phạm hành chính và chỉ số trên phiếu đo tốc độ để ban hành Quyết định xử phạt là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Bình P được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của người bị kiện có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, thời hiệu khởi kiện, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, Tòa cấp sơ thẩm xác định là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Ngày 29/01/2024, ông Lê Bình P điều khiển xe ô tô biển số 51D-387.15 lưu thông trên Quốc lộ A hướng từ huyện B về thành phố T, tỉnh Long An thì bị Đội tuần tra thuộc Phòng C Công an tỉnh L dừng xe lúc 13 giờ 00 phút và được thông báo là vi phạm lỗi chạy quá tốc độ quy định từ 10km/h - 20km/h. Sau đó ông P đã bị Đại úy Đặng Quốc B thuộc Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính mang số 001132/BB-VPHC và tạm giữ Giấy phép lái xe hạng B2 số 790117235388 (gồm hạng A2 và B2) mang tên Lê Bình P, ông P đồng ý ký tên vào biên bản. Ngày 05/02/2024 ông P đến trụ sở Phòng C Công an tỉnh L để khiếu nại đối với hành vi lập biên bản nêu trên không đúng quy định pháp luật. Ngày 15/02/2024, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L là Thượng tá Trần Minh H đã ban hành Văn bản số 159/CAT-PC08 về việc trả lời đơn khiếu nại của ông P với nội dung khẳng định việc lập biên bản vi phạm hành chính là có cơ sở. Cùng ngày, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC đối với ông P.
Xét kháng cáo của ông Lê Bình P:
Căn cứ Phiếu kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (kèm theo Biên bản số 001132/BB-VPHC ngày 29/01/2024) thể hiện cán bộ Phòng PC08 Công an tỉnh L là người đã sử dụng thiết bị đo tốc độ có hình ảnh kiểu TruSpeed SXBCF, số TJ 008523, hạn kiểm định đến ngày 31/3/2025, T kiểm định số 21A04847 để tiến hành đo tốc độ phương tiện ô tô bán tải mang biển kiểm soát số 51D-387.15 do ông Lê Bình P điều khiển phát hiện ông P điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chạy quá tốc độ từ 10km/h -20km/h, nên đã dừng phương tiện và lập biên bản vi phạm hành chính vào lúc 13 giờ ngày 29/01/2024, ông P đồng ý với nội dung biên bản và đã ký tên xác nhận. Nội dung biên bản ghi nhận “Lúc 12 giờ 28 ngày 29/01/2024 tại Km 1943 Quốc lộ A Bình Thạnh T, Long An L điều khiển xe ô tô tải 51D-38715 chạy quá tốc độ qui định từ 10km/h -20km/h(70/60km/h)....”. Như vậy, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cơ quan CSGT dùng để đo tốc độ là đảm bảo theo đúng quy định; đồng thời sau khi xác định ông P chạy quá tốc độ nên đã dừng phương tiện và lập biên bản vi phạm hành chính, ông P thừa nhận và ký vào Biên bản, không phản đối gì.
Sau khi phát hiện vi phạm hành chính của ông P, cán bộ thuộc Phòng PC08 Công an tỉnh L đã tiến hành xử lý lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 20 của Thông tư 32/2023/TT-BCA. Bên cạnh đó, Phòng Cảnh sát giao thông thuộc lực lượng được trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ đảm bảo đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số 135/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Như vậy, Trưởng phòng C Công an tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số G01.901.308.006-981-24-001587/QĐ-XPHC, ngày 15/02/2024 đối với ông Lê Bình P là có cơ sở đúng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 Thông tư số 32/2023/TT-BCA; Điều 58, Điều 66, điểm c khoản 1 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Bình P là không có cơ sở nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông P kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hành chính phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Bình P phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Bình P; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2024/HC-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: ông Lê Bình P phải chịu 300.000 đồng; được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000288 ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
| Nguyễn Thị Thụy Vũ Nguyễn Văn Khương | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn An |