- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Tr - ông T"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án: 130/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13/4/2023 V/v: “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền;
Ông Nguyễn Quốc Thanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 524/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hứa Thị Tr, sinh năm 1985; cư trú: Số 46, khu phố 6, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1982; cư trú: Số nhà 28, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Hứa Thị Tr trình bày: Hôn nhân của bà và ông T là tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 23/8/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do bất đồng quan điểm sống, hay cự cải, mặc dù vợ chồng có cố gắng hàn gắng tình cảm nhưng không thành. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay, ông T không liên lạc với gia đình, không thăm nom con, gia đình hai bên cũng nhiều lần khuyên ngăn, hàn gắn tình cảm cho vợ chồng bà nhưng bà Tr thấy mình không còn tình cảm với ông T và không thể chung sống với nhau bà nên xin được ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 02 con chung: 1/ Cháu Huỳnh Tấn P, sinh ngày 28/8/2018; 2/ Cháu Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 04/12/2019, đang sống với bà Tr. Khi ly hôn, bà Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Huỳnh Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông T vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử (HĐXX) nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.
Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.
Biên bản xác minh ngày 15/02/2023 người thân bà Tr cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Tr, ông T là do bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã, ông T không quan tâm đến gia đình và cũng không chăm lo làm ăn để phụ bà Tr nuôi con chung. Khi bà Tr có ý định ly hôn thì ông T có gọi cho bà Tr, ông T dùng lời lẽ thô tục và có hành vi đe dọa dùng vũ lực đối với bà Tr, gia đình có khuyên ngăn, hàn gắn tình cảm nhưng ông T vẫn không quan tâm nên để cho vợ chồng T tự giải quyết.
Theo thông báo ngày 20/02/2023, ông Nguyễn Văn N –Trưởng Công an xã K cung cấp: Hiện ông Huỳnh Văn T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương.
Tại phiên toà hôm nay: Bà Tr vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về hôn nhân và con chung là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận. Đối với tài sản chung ông T vắng mặt nếu sau này ông T chứng minh về tài sản chung thì sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ kiện khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Tr yêu cầu được ly hôn với ông T. Ông T cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Tr vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Tr, ông T theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà Tr và ông T là tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 67 ngày 23/8/2019 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà Tr xin ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử, xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Tr và ông T phát sinh đã lâu, đến tháng 10/2022 thì bà Tr, ông T sống ly thân, bà Tr về sinh sống tại phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang nhưng cho đến nay cả hai không có giải pháp hàn gắn. Lời trình bày của bà phù hợp với biên bản xác minh ngày 15/02/2023. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông T không có mặt để tiến hành hòa giải. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Tr là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung: 1/ Cháu Huỳnh Tấn P, sinh ngày 28/8/2018; 2/ Cháu Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 04/12/2019. Hiện cháu P, cháu Đ do bà Tr nuôi dưỡng, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu. Xét thấy, hai con chung đang sống với bà Tr, trong qua trình trình giải quyết vụ án Tòa án cũng không ghi nhận được ý kiến của ông T. Do đó, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của các cháu sau này được tốt nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà Tr được tiếp tục nuôi dạy.
Về cấp dưỡng: Bà Tr không yêu cầu nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà Tr không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Tr không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Tr phải chịu án phí hôn nhân & gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử : Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hứa Thị Tr.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hứa Thị Tr được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 67 ngày 23/8/2019 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà Hứa Thị Tr được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Tấn P, sinh ngày 28/8/2018; cháu Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 04/12/2019.
Công nhận sự tự nguyện của bà Tr về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Tr cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Hứa Thị Tr phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà Tr đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A theo biên lai thu số: 0007964 ngày 08/12/2022.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - VKSND huyện (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Các đương sự; - UBND nơi đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Sang |