vanban.org

Bản án 130/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 10/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Quốc P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Thái Quốc P 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2019. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 50/2019/HSST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đ không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Quốc P - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Quốc P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Bản án số:130/2019/HSPT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 10 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiến

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Trị

Ông Huỳnh Ngọc Thiện

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thành, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2019/HSPT ngày 06/8/2019 đối với bị cáo Thái Quốc P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2019/HSST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị cáo kháng cáo: Thái Quốc P, sinh năm 1987 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh.

Cha: Thái Quốc B, sinh năm 1950; Mẹ: Phạm Thị L, sinh năm 1950 (Đã chết); Vợ: Diệp Thị M, sinh năm 1985 (không đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị t: 25/02/2019 (Có m t tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Tổ 5, Ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2019/HSST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen iết nhau qua mạng xã hội (Zalo) từ cuối năm 2018, nên vào tối ngày 22/01/2019, Thái Quốc P điều khiển xe mô tô Honda Dream (P không nhớ rõ iển số) đến nhà à Nguyễn Thị Kiều T tại tổ 5, ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu chơi. Tối hôm đó P ngủ lại tại phòng khách của nhà bà T. Đến khoảng 05 giờ ngày 23/01/2019 P điều khiển xe mô tô chở à T đến xã X, huyện C để P mượn tiền của người quen. Do không iết đường đi nên đến khoảng 11 giờ thì P và bà T ghé quán nước mía thuộc xã C để nghỉ ngơi uống nước. Đến khoảng gần 18 giờ P vẫn không tìm g p được người quen, nên P chở bà T vào khu vực vườn điều của ông Phan N thuộc thôn H, xã C, huyện C, rồi P và bà T ngồi nói chuyện với nhau dưới ãi đất trống của vườn điều. Trong lúc đang nói chuyện, thì xảy ra mâu thuẫn, P đứng từ phía sau ất ngờ dùng tay trái đấm vào m t à T 02 cái rồi giật lấy cái điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu tím của à T đang cầm trên tay, hai ên xảy ra giằng co để giật cái điện thoại nên bà T ị trượt chân té ngã sấp xuống đất, tại mép ờ rẫy điều. P lấy được cái điện thoại của à T, rồi điều khiển xe mô tô chạy về nhà tại xã S. Bà T đi ộ ra đường nhờ người dân giúp đỡ để đi về nhà tại xã C.

Ngày 26/01/2019, do cần tiền tiêu xài nên P đã án cái điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu tím cho một người không rõ lại lịch với giá 300.000 (Ba trăm nghìn đồng). Đến ngày 12/02/2019, P lên Thành phố Hồ Chí Minh và làm lễ tân cho khách sạn P tại Quận X, Thành phố HCM. Đến ngày 25/02/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện C phối hợp với Công an phường Y, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh để đưa đối tượng P về làm việc.

Theo Biên bản kết luận định giá tài sản số 12/HĐĐG ngày 23/02/2019 của Hội đồng định giá huyện C kết luận: Tổng giá trị tài sản cướp tại thời điểm ngày 23/01/2019 là 6.640.500đ (Sáu triệu sáu trăm ốn mươi ngàn năm trăm đồng).

Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2019/HSST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

Tuyên ố: Bị cáo Thái Quốc P phạm tội “Cướp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm , s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt ị cáo Thái Quốc P 03 (Ba) năm tù, thời hạn tính từ ngày 25/02/2019.

Án sơ thẩm cũng tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/7/2019, Thái Quốc P có đơn kháng cáo ản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C với lý do: Tòa án sơ thẩm chưa xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, do đó, mức án mà Tòa án sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là n ng, xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với nội dung trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã phân tích, kết luận toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho rằng, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Đơn kháng cáo của Thái Quốc P gửi trong thời hạn quy định nên hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Xét nội dung kháng cáo của ị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi phạm tội của ị cáo:

Lời nhận tội của ị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và vật chứng thu giữ được, có cơ sở kết luận: Bị cáo đã dùng vũ lực đối với bị hại để chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F9, trị giá 6.640.500đ (Sáu triệu sáu trăm ốn mươi ngàn năm trăm đồng). Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

. Xét kháng cáo của bị cáo là Tòa án sơ thẩm chưa xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, án sơ thẩm đã nhận định: “Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ị cáo có thái độ khai áo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ồi thường kh c phục được hậu quả, ị hại ãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo” nên đã áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là đã đầy đủ.

. Án sơ thẩm cũng xem xét nhân thân của bị cáo: Ngày 19/7/2005, ị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 07 (Bảy) tháng tù về “Trộm c p tài sản”. Do đó, mức án 03 năm tù đối với bị cáo mới chỉ ở khởi điểm của khung hình phạt là không n ng, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Quốc P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm , s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Thái Quốc P 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2019.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 50/2019/HSST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đ không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Thái Quốc P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ