vanban.org

Bản án 130/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tố A1.

[2]. Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Hoàng Duy P, sinh ngày 05/09/2013, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/01/2016 cho anh Nguyễn Hoàng A tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của các cháu. Chị Nguyễn Thị Tố A1 được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con ch…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "A - A1"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tố A1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2-VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 130/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 20-05-2026
“V/v ly hôn, nuôi con”

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Quang

2. Bà Nguyễn Thị Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Không.

Trong ngày 20 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2026/TLST-HNGĐ, ngày 26/01/2026 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/03/2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 135/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 24/04/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1991 (xin vắng)

Nơi cư trú: ấp F, xã S, tỉnh Vĩnh Long

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tố A1, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A trình bày:

Qua quen biết nên anh và chị Nguyễn Thị Tố A1 tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/07/2012 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã S, tỉnh Vĩnh Long).

Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc kéo dài đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình, vợ chồng không còn tiếng nói chung và sống không hạnh phúc. Do đó vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Từ lúc ly thân hai bên không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh Nguyễn Hoàng A yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tố A1.

Về con chung: Khi ly hôn anh Nguyễn Hoàng A yêu cầu nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Duy P, sinh ngày 05/09/2013, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/01/2016, không yêu cầu chị Tố A1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị Tố A1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày.

- Trong đơn xin xét xử vắng mặt ngày 30/03/2026, nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A trình bày: Anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Tố A1. Về con chung: Khi ly hôn anh Nguyễn Hoàng A yêu cầu nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Duy P, sinh ngày 05/09/2013, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/01/2016, không yêu cầu chị Tố A1 cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con, nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”; bị đơn chị Nguyễn Thị Tố A1 cư trú tại ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Tố A1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử thống nhất đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về pháp luật nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng A và chị Nguyễn Thị Tố A1 có quen biết tìm hiểu nhau rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã S, tỉnh Vĩnh Long), ngày 10/07/2012, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo anh Nguyễn Hoàng A trình bày: Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc kéo dài đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình, vợ chồng không còn tiếng nói chung và sống không hạnh phúc. Do đó vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Từ lúc ly thân hai bên không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh Nguyễn Hoàng A yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tố A1.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, tuy nhiên hiện tại vợ chồng anh Hoàng A, chị Tố A1 đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Qua đó cho thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tố A1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[2]. Về con chung: Anh Nguyễn Hoàng A khai có con chung với chị Nguyễn Thị Tố A1 là các cháu Nguyễn Hoàng Duy P, sinh ngày 05/09/2013, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/01/2016. Khi ly hôn anh Hoàng A yêu cầu nuôi con chung.

Xét thấy việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện tại anh Hoàng A là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và các con cũng có nguyên vọng sống chung với anh Hoàng A. Do đó để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của các cháu về tâm sinh lý, tránh thay đổi môi trường sống và học tập của các cháu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng A là giao các cháu Nguyễn Hoàng Duy P, sinh ngày 05/09/2013, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/01/2016 cho anh Hoàng A tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các cháu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị Tố A1 được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Hoàng A khai chưa yêu cầu, chị Nguyễn Thị Tố A1 cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Hoàng A khai chưa yêu cầu, chị Nguyễn Thị Tố A1 cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tố A1.

[2]. Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Hoàng Duy P, sinh ngày 05/09/2013, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/01/2016 cho anh Nguyễn Hoàng A tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của các cháu.

Chị Nguyễn Thị Tố A1 được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Hoàng A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001774 ngày 23/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Anh Hoàng A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ