- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hải - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2024/HS-ST Ngày: 25-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hùng
Ông Cao Văn Truyện
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Duy Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024QĐST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn H, sinh ngày 24/3/1993, tại: tỉnh N.
Nơi ĐKHKTT: Buôn Knia, xã T, huyện G, tỉnh Đ.
Nơi ở hiện tại: Thôn 2, xã Đ, thị xã Điện B, tỉnh N.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà C Thị L (cả hai đều còn sống); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị M và 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/6/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/9/2024; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị L, sinh năm 1972
Trú tại: Thôn S, xã Hòa C, huyện Hòa V, TP.Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/9/2024, bị cáo Nguyễn H đang ở nhà thì một người bạn tên My (chưa xác định được nhân thân lai lịch) liên hệ qua ứng dụng Zalo rủ bị cáo H ra nhà nghỉ 605 tại thôn S, xã Hòa C, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng để sử dụng ma túy. Do chưa có ma túy nên bị cáo H liên hệ một người tên Cân (chưa xác định được nhân thân lai lịch) qua ứng dụng Zalo để hỏi mua 2.800.000đ (hai triệu tám trăm ngàn đồng) ma túy đá thì Cân đồng ý bán nên hẹn bị cáo H đến cầu Thanh Quýt, thị xã Điện B, tỉnh N để lấy ma túy. Do không gọi được xe thồ nên bị cáo H đi nhờ người đi đường đến cầu Thanh Quýt gặp Cân lấy ma túy và thanh toán cho Cân 2.800.000đ (hai triệu tám trăm ngàn đồng). Sau khi mua được ma túy, bị cáo đón xe ôm rồi đem số ma túy vừa mua được đến nhà nghỉ 605 để gặp My. Khi vừa đến cửa nhà nghỉ 605, thì bị cáo H bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần jean phía trước bên phải của bị cáo H 01 (một) gói ni lông bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói ni lông bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu đỏ, gắn thẻ sim số 0985.020.101.
Theo Bản kết luận giám định số: 749/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 5,225 gam.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn H mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.
Ngoài ra, trong vụ án còn có:
- Đối với đối tượng tên Cân (người bán ma túy cho Hải): Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Cân nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên không xem xét.
+ Đối với người tên My là người liên hệ rủ bị cáo H đến nhà nghỉ 605 sử dụng ma túy: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của My nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên không xem xét.
+ Đối với người đi đường đã chở bị cáo H từ nhà nghỉ 605 đến gặp Cân để mua ma túy và người xe thồ (xe ôm) chở bị cáo từ cầu Thanh Quýt, thị xã Điện B, tỉnh N về lại nhà nghỉ 605 để sử dụng ma túy, hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên không xem xét.
+ Đối với số điện thoại 0985.020.101 (bị cáo H khai nhận là của mình): Cơ quan CSĐT Công an huyện Hòa Vang đã gửi yêu cầu đến Cục bảo vệ an ninh quân đội để yêu cầu cung cấp thông tin thuê bao, lịch sử cuộc gọi, tin nhắn nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời nên khi nào có kết quả sẽ xử lý sau nên không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 4,755 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoai hiệu Samsung, màu đỏ, gắn sim số 0985.020.101 đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy sim và tịch thu sung công quỹ Nhà nước điện thoại.
(Hiện các tang vật trên đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang quản lý, tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/12/2024).
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của người làm chứng. Do vậy, việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt người làm chứng.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn H khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 16 giờ 55 phút ngày 11/9/2024, tại nhà nghỉ 605 thuộc thôn S, xã Hoà C, huyện Hoà Vang, TP. Đà Nẵng, Nguyễn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ trong người bị cáo 01 (một) gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 5,225 gam.
Hành vi trên của bị cáo H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn H thì thấy:
Bị cáo H là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực hành vi và biết rõ việc sử dụng, tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì đua đòi, muốn thỏa mãn sở thích cá nhân và hiện là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua ma túy về sử dụng. Khi chưa kịp đưa ma túy vào sử dụng thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần jean phía trước bên phải của bị cáo 01 (một) gói ma túy với khối lượng 5,225 gam.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, tác động tiêu cực đến một bộ phận thanh thiếu niên. Do tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ra các tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, đúng với tính chất hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn H thì thấy:
Bị cáo H là người trưởng thành, có nhân thân xấu, đã từng có một tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử 12 tháng tù ngày 03/6/2021. Lẽ ra, hơn ai hết bị cáo phải nhận thức được pháp luật, nhưng vì bản tính ham chơi, muốn thỏa mãn mục đích cá nhân nên bị cáo H mua khối lượng 5,225 gam ma túy về sử dụng. Hành vi của bị cáo thuộc tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo có ông ngoài là cụ C Bốn và bà ngoại cụ Võ Thị Thậm là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Bằng gia đình có công chống Mỹ cứu nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo H khi lượng hình.
Hội đồng xét xử xét thấy, ngoài hình phạt chính, cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền để sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo, qua đó nhằm cải tạo giáo dục cũng như để răn đe phòng ngừa chung.
Ngoài ra, trong vụ án còn có:
- Đối với đối tượng tên Cân (người bán ma túy cho Hải): Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Cân nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người tên My là người liên hệ rủ Hải đến nhà nghỉ 605 sử dụng ma túy: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của My nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người đi đường đã chở bị cáo H từ nhà nghỉ 605 đến gặp Cân để mua ma túy và người xe thồ (xe ôm) chở bị cáo từ cầu Thanh Quýt, thị xã Điện B, tỉnh N về lại nhà nghỉ 605 để sử dụng ma túy, hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với số điện thoại 0985.020.101 của bị cáo: Cơ quan CSĐT Công an huyện Hòa Vang đã gửi yêu cầu đến Cục bảo vệ an ninh quân đội để yêu cầu cung cấp thông tin thuê bao, lịch sử cuộc gọi, tin nhắn nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời nên khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Đối với bà Trần Thị L chủ nhà nghỉ 605 tại thôn S, xã Hòa C, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng nơi bị cáo đến để sử dụng ma túy theo lời mời của đối tượng tên My. Khi bị cáo H vừa đến cửa nhà nghỉ, chưa vào phòng nào thì bị lực lượng công an bắt quả tang, việc thuê nhà nghỉ là do My trao đổi với chủ nhà nghỉ, bị cáo H không phải là người thuê nhà nghỉ để sử dụng ma túy nên chủ nhà nghỉ không biết việc bị cáo H đến nhà nghỉ của mình sử dụng ma túy. Do đó, chủ nhà nghỉ không có liên quan gì đến vụ án nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 4,755 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định. Đây là tang vật của vụ án nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoai hiệu Samsung, màu đỏ, gắn sim số 0985.020.101. Đây là các tang vật trong vụ án nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước điện thoại và tiêu hủy sim.
Hội đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/9/2024.
[2] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn H 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 4,755 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và sim số 0985.020.101.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoai hiệu Samsung, màu đỏ.
Tất cả vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/12/2024.
[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
[5] Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/12/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hòa Vang; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng KTNV và THAHS-TAND TP.Đà Nẵng; - Công an huyện Hòa Vang; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thế Anh |