vanban.org

Bản án 130/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 23/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phúc C phạm tội “ Cướp giật tài sản”.

Xử phạt Trần Phúc C 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 23-8-2024). Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2021) tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) mũ bảo hiểm, hiệu nón sơn đen r…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phúc C bị truy tố về tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phúc C phạm tội “ Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HS-ST
Ngày: 23-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hạnh.

2. Bà Đỗ Thị Ngân.

-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Phúc C, sinh năm 1984 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Phật giáo, quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phúc Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1958, nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường C, thành phố D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tiền án: Năm 2007, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt tù 09 (Chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 73/2007/HSPT ngày 02-5-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành phần án phí và hình phạt bổ sung; tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Phúc C bị tạm giữ ngày 23-8-2024 đến ngày 26-8-2024 bị bắt, tạm giam cho đến ngày xét xử. (có mặt)

- Bị hại: Bà Trương Thị M, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Tấn L, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp A, xã B, thành phố C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

2. Bà Phan Thị Ng, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã C, thành phố D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Lê Văn H, sinh năm 1956; Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài nên Trần Phúc C đã nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người đi đường. Vào khoảng 07 giờ 10 phút ngày 23-8-2024, C điều khiển xe mô-tô hiệu Honda Future màu xanh đen, biển số: 72D1-560.35 chạy theo tuyến đường Quốc lộ 56 từ hướng thành phố Bà Rịa lên huyện Châu Đức. Khi đến khu vực vòng xoay mới Hòa Long thì C rẽ phải vào một đường hẻm vắng người để tháo biển số xe nhằm tránh bị phát hiện. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe chạy ra đường Quốc lộ 56 để đi lên huyện Châu Đức, C điều khiển xe mô-tô, không có biển số đến Ngã 3 chợ A, thuộc xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu rồi rẽ trái đi về hướng Khu Công nghiệp C. Lúc này, C nhìn thấy ông Lê Văn H điều khiển xe Vision màu đỏ, biển số 72F1-601-56, đi ngược chiều với C, phía sau chở theo cháu ngoại ngồi giữa và bà Trương Thị M ngồi phía sau. Khi nhìn thấy trên cổ bà M có đeo 01 sợi dây chuyền vàng nên C đã điều khiển xe quay lại, chạy bám sau xe của ông H, chạy được một đoạn, C liền điều khiển xe áp sát xe của ông H về phía bên phải của bà M rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ bà M xong thì tẩu thoát.

Sau khi lấy được tài sản, C điều khiển xe mô-tô, không biển số chạy về đường Hương lộ 2 rồi rẽ phải vào đường số 28 dừng lại và gắn biển số xe, cởi áo khoác bỏ vào cốp xe, rồi điều khiển xe đến quán cà phê “Nguyệt Ca” thuộc ấp A, xã B, thành phố C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để uống nước và nằm ngủ ở chòi trong quán cà phê.

Qua trình báo của bị hại, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức đã nhanh chóng tiến hành truy đuổi đối tượng theo các tuyến đường về thành phố Bà Rịa, đồng thời trích xuất dữ liệu camera trên các tuyến đường liên quan. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, qua tin báo Đội Cảnh sát Hình sự - Kinh tế Ma túy Công an huyện Châu Đức đã phát hiện đối tượng đang ở quán cà phê “Nguyệt Ca” nên tiến hành bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Phúc C.

Tang vật thu giữ gồm: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, dài 50cm, có hình dạng mắt xích, trên đầu sợi dây chuyền ghi ký hiệu TD610 ĐEP, đầu còn lại không có móc khóa; 01 chiếc xe mô-tô, nhãn hiệu Honda Future màu xám, biển số: 72D1-560.35, số khung: RLHJC7655PY303147, số máy: JC90E0416137, biển số xe chỉ gắn một bên ốc; 02 chiếc long đền gắn biển số, 01 cái khóa 10, 01 mũ bảo hiểm, hiệu nón sơn màu đen rằn ri, 01 khẩu trang màu trắng, 01 nón két, màu đen ghi chữ “Discovery since 1996”; 01 áo khoác bằng vải dù, ghi hiệu “HINOMAXX Outwear”.

Tại bản Kết luận định giá số 72/BB-HĐĐGTS ngày 25-9-2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Đức kết luận: Tổng giá trị thiệt hại trong vụ cướp giật tài sản ngày 23-8-2024 tại thôn Đức Mỹ, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 20.723.600 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm hai mươi ba ngàn sáu trăm đồng), trong đó: 01 (một) sợi dây chuyền dạng cong HQ (TD), loại vàng 18K (610), trọng lượng 3,445 chỉ là 16.260.400 đồng (Mười sáu triệu hai trăm sáu mươi ngàn bốn trăm đồng), gồm Sợi dây chuyền dài 50cm, trọng lượng 3,36 chỉ (tài sản có hiện vật) là 15.859.200 đồng (Mười lăm triệu tám trăm năm mươi chín ngàn hai trăm đồng); móc khóa của dây chuyền có trọng lượng 0,085 chỉ (tài sản không có hiện vật) là 401.200 đồng (Bốn trăm linh một ngàn hai trăm đồng); tiền công 390.000 đồng (Ba trăm chín mươi ngàn đồng); 01 (một) mặt dây chuyền dạng mặt bông TD-12, loại vàng 18K (610), trọng lượng 0,81 chỉ (tài sản không có hiện vật) là 3.823.200 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi ba ngàn hai trăm đồng). Tiền công 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Quá trình tố tụng bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận của Hội đồng định giá tài sản và xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức.

Bản cáo trạng số 124/CT-VKS-CĐ ngày 11-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Trần Phúc C về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Phúc C từ 05 (Năm) năm đến 06 (Sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 23-8-2024).

Vật chứng vụ án:

Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, dài 50cm, có hình dạng mắt xích, trên một đầu sợi dây chuyền ghi ký hiệu TD610 ĐEP, đầu còn lại không có móc khóa là tài sản hợp pháp của bà Trương Thị M nên ngày 02-10-2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại cho bà Trương Thị M.

Đối với 01 (một) xe mô-tô, nhãn hiệu Honda Future, màu xám, biển số: 72D1-560.35, số khung: RLHJC7655PY303147, số máy: JC90E0416137, cốp xe có 02 chiếc long đền gắn biển số, 01 cái khóa 10, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị Ng. Khi C sử dụng xe làm phương tiện đi cướp giật tài sản bà Ng không biết nên ngày 02-10-2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại tài sản cho bà Ng.

Đối với 01 mũ bảo hiểm, hiệu nón sơn đen rằn ri; 01 khẩu trang màu trắng, 01 nón két, màu đen, ghi chữ “Discovery since 1996”; 01 áo khoác bằng vải dù, ghi hiệu ‘HINOMAXX Outwear” là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị nên áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trương Thị M đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự;

Bị cáo Trần Phúc C xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành người công dân sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị hại bà Trương Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Tấn L, bà Phan Thị Ng vắng mặt không có lý do. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt bà M, ông L, bà Ng; xét việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử.

Người làm chứng ông Lê Văn H vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và xét sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử.

. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có cơ sở để xác định:

Vào khoảng 08 giờ ngày 23-8-2024, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trần Phúc C đã điều khiển xe mô-tô, hiệu Honda Future, màu xám, biển số: 72D1-560.35 áp sát vào xe Vision màu đỏ, biển số 72F1-601-56 chạy cùng chiều phía trước do ông Lê Văn H điều khiển, phía sau chở bà Trương Thị M để giật 01 sợi dây chuyền bằng vàng là tài sản của bà Trương Thị M. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Đức sợi dây chuyền trị giá 20.723.600 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm hai mươi ba ngàn sáu trăm đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Phúc C khi giật tài sản là sợi dây chuyền của bà M đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã sử dụng xe mô-tô để làm phương tiện phạm tội; bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo Trần Phúc C thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo là công dân đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự nhưng không chí thú làm ăn. Để phục vụ cho nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Vì vậy, cần phải trừng trị bị cáo thật nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội; có ý thức tuân theo pháp luật; ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục, phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, dài 50cm, có hình dạng mắt xích, trên một đầu sợi dây chuyền ghi ký hiệu TD610 ĐEP, đầu còn lại không có móc khóa là tài sản hợp pháp của bà Trương Thị M nên ngày 02-10-2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại cho bà Trương Thị M nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 (một) xe mô-tô, nhãn hiệu Honda Future, màu xám, biển số: 72D1-560.35, số khung: RLHJC7655PY303147, số máy: JC90E0416137, cốp xe có 02 chiếc long đền gắn biển số; 01 cái khóa 10, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị Ng. Qua điều tra, xác định khi C mượn xe này từ ông Trần Tấn L là chồng của bà Nga thì ông Lộc, bà Nga không biết C sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội nên ngày 02-10-2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại cho bà Phan Thị Ng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 mũ bảo hiểm, hiệu nón sơn đen rằn ri; 01 khẩu trang màu trắng, 01 nón kết, màu đen, ghi chữ “Discovery since 1996”; 01 áo khoác bằng vải dù, ghi hiệu ‘HINOMAXX Outwear” là vật chứng nhưng không có giá trị nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy.

. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 292, 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2021);

Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố bị cáo Trần Phúc C phạm tội “ Cướp giật tài sản”.

Xử phạt Trần Phúc C 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 23-8-2024).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2021) tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) mũ bảo hiểm, hiệu nón sơn đen rằn ri; 01 (Một) khẩu trang màu trắng, 01 (Một) nón kết, màu đen, ghi chữ “Discovery since 1996”; 01 (Một) áo khoác bằng vải dù, ghi hiệu ‘HINOMAXX Outwear”.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-11-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Đức và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Phúc C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23-12-2024). Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ