vanban.org

Bản án 130/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Trương Thanh K.

Về con chung: Giao cháu Trương Thanh L, sinh ngày 31 tháng 10 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Trương Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Trương Thanh K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN PHƢỚC
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21 -8- 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƢỚC, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Bích Khuyên,

Ông Nguyễn Đình Chỉ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/QĐXX-HNGĐST ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1983,

- Bị đơn: Anh Trƣơng Thanh K, sinh năm: 1978,

Cùng địa chỉ: Thôn 03, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị H và anh K tự nguyện tìm hiểu, xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiên Lập, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam vào năm 2009. Sau khi kết hôn,anh chị chung sống tại nhà của cha mẹ chị H và có 01 người con chung. Anh K bị nghiện ma túy nên không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Anh đã nhiều lần vi phạm pháp luật, chị đã nhiều lần tha thứ, khuyên nhủ nhưng anh không sửa chữa. Anh chị đã không chung sống cùng nhau hơn 06 năm nay; chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn; nếu cuộc sống chung còn kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con cái. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh K để chị ổn định cuộc sống, nuôi dạy con cái.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có 01 người con chung là cháu Trương Thanh L, sinh ngày 31 tháng 10 năm 2011. Sau khi ly hôn, chị H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Trương Thanh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại hồ sơ vụ án, bị đơn anh Trương Thanh K trình bày: Anh thống nhất về việc xác lập quan hệ hôn nhân của anh chị. Trong cuộc sống, anh thừa nhận anh có sai lầm, anh bị nghiện ma túy, có vi phạm pháp luật. Anh thiếu sự quan tâm đến vợ con và gia đình. Anh không muốn ly hôn, anh muốn chị H cho anh cơ hội để đoàn tụ gia đình, anh sửa sai và cùng nhau nuôi dạy con cái.

Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là cháu Trương Thanh L, sinh ngày 31 tháng 10 năm 2011. Nếu trường hợp vợ chồng ly hôn thì anh có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng. Các đương sự đã thể hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định về pháp luật tố tụng; mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử: chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Trương Thanh K; giao cháu Trương Thanh L, sinh ngày 31 tháng 10 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Trương Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trương Thanh K dựa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiên Lập, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam vào năm 2009 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

Theo lời khai của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được thể hiện: Anh Trương Thanh K bị nghiện ma tuý, không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình và nhiều lần vi phạm pháp luật. Chị Nguyễn Thị H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh vẫn không sửa chữa, dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không có hạnh phúc. Anh chị đã không chung sống cùng nhau hơn 06 năm nay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải để anh chị đoàn tụ; mặc dù anh K có nguyện vọng đoàn tụ gia đình nhưng chị H cương quyết xin ly hôn vì mâu thuẫn gia đình đã quá trầm trọng.

Xét thấy, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị H ly hôn với anh K.

. Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là cháu Trương Thanh L, sinh ngày 31 tháng 10 năm 2011. Hiện tại, cháu Lâm đang sống cùng chị H, cháu có nguyện vọng ở cùng với mẹ nên việc giao cháu Trương Thanh L cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng theo yêu cầu của chị là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Trương Thanh K.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Thanh L, sinh ngày 31 tháng 10 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Trương Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng y) án phí sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam theo biên lai thu số 0005747 lập ngày 15 tháng 7 năm 2024. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ