- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đậu Đình Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đậu Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2023/HS-ST Ngày: 18/05/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngọc Linh và bà Phan Kim Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký TAND TP.V
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhật Trà - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 121/2023/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đậu Đình Đ; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1996 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm M, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đậu Đình T và bà Nguyễn Thị H; Anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2023 đến ngày 24/02/2023 được tại ngoại tại địa phương, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: 1. Chị Nguyễn Thị H– sinh năm 1994
Trú tại: xóm 7, xã P, huyện L, tỉnh Nghệ An – vắng mặt
2. Chị Phạm Thị Mỹ L – sinh năm 2003
Trú tại: tổ dân phố C, phường L, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 14/02/2023, Đậu Đình Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển số 37V2-5563 đến cửa hàng quần áo “Mao Mao Boutique” tại số 16, đường V, phường B, TP.V, tỉnh Nghệ An để mua quần áo. Lúc này, nhân viên của cửa hàng là chị Nguyễn Thị H và chị Phạm Thị Mỹ L đang sắp xếp quần áo. Đậu Đình Đ đứng xem quần áo thì nghe có người hỏi “Điện thoại để ở đâu”, người còn lại trả lời “Điện thoại đang để trên bàn thanh toán”. Do thiếu tiền trả nợ, nên Đậu Đình Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. Đ đi đến khu vực bàn thanh toán thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động Iphone X màu trắng và 01 ví da màu xanh lá cây. Lúc này, lợi dụng không có ai để ý, Đ dùng tay cầm lấy 02 chiếc điện thoại và chiếc ví da đi ra ngoài rồi phóng xe đi. Khi đi đến đường Quốc lộ 46 thuộc huyện N, Đậu Đình Đ dừng lại kiểm tra bên trong ví có số tiền 5.700.000 đồng. Đ tiếp tục đi đến một cửa hàng tạp hóa gần đó gặp chủ quán và nhờ chuyển khoản 5.300.000 đồng để trả nợ cho một người bạn tên H (bạn cũ, không nhớ địa chỉ cụ thể). Trên đường về nhà, khi đến khu vực chợ C, huyện T, Đậu Đình Đ đã vứt chiếc ví da lại, còn 02 chiếc điện thoại di động Đ đưa về nhà cất giấu, số tiền 400.000 đồng Đ tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 15/02/2023, chị Nguyễn Thị H và chị Phạm Thị Mỹ L đến Công an phường B, thành phố V trình báo sự việc. Cùng ngày, Đậu Đình Đ đã đến Công an phường B, thành phố V đầu thú và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động Iphone X màu trắng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển số 37V2-5563. Đối với chiếc ví da Đ vứt khi trên đường về nhà; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Đậu Đình Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại kết luận định giá tài sản số 20/KL-ĐGTS ngày 20/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự UBND TP.V kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng đã qua sử dụng có dung lượng 64GB tại thời điểm ngày 14/02/2023 có giá trị 2.600.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Pro Max dung lượng 64GB có số IME: 35285311372056 tại thời điểm ngày 14/02/2023 có giá trị 6.300.000. Tổng giá trị định giá là 8.900.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc ví da màu xanh lá cây Đậu Đình Đ lấy trộm của chị Nguyễn Thị Hòa vì đã sử dụng lâu và giá trị không lớn nên chị Hòa không yêu cầu định giá và không yêu cầu đền bù. Chị Nguyễn Thị Hòa và chị Phạm Thị Mỹ Linh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.
Về vật chứng: - 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, dung lượng 64GB và số tiền 5.700.000 đồng do Đậu Đình Đ khắc phục hậu quả, đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Hòa.
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11Pro Max dung lượng 64GB, IME: 35285311372056 đã trả lại cho chị Phạm Thị Mỹ Linh.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ xám đen biển số 37V2-5563. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này của anh Đậu Đình Tý (Sinh năm 1972, trú tại xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An) là bố đẻ của Đ. Đậu Đình Đ sử dụng chiếc xe thực hiện hành vi phạm tội anh T không biết nên Công an thành phố V đã trả lại cho anh Đậu Đình T.
- Chiếc ví da màu xanh lá cây không thu hồi lại được.
Cáo trạng số 145/CT-VKS-TPV ngày 17/04/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố Đậu Đình Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt Đậu Đình Đ từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Ngoài ra, đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên toà, bị cáo Đậu Đình Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại trong giai đoạn điều tra và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 14/02/2023, tại cửa hàng quần áo “Mao Mao Boutique”, địa chỉ số 16, đường P, phường B, TP.V, tỉnh Nghệ An; Đậu Đình Đ có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, dung lượng 64GB trị giá 2.600.000 đồng, 01 ví da màu xanh lá cây bên trong có 5.700.000 đồng của chị Nguyễn Thị H và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11Pro Max dung lượng 64GB trị giá 6.300.000 đồng của chị Phạm Thị Mỹ L. Tổng số tiền Đậu Đình Đ trộm cắp là 14.600.000 đồng. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát quy kết là đúng người, đúng tội.
Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xử phạt nghiêm.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; tự giao nộp tài sản đã chiếm đoạt trả lại cho bị hại và bồi thường khắc phục hậu quả; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có bà nội tham gia dân công hỏa tuyến được Bộ tư lệnh Quân khu IV cấp giấy chứng nhận. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 BLHS, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, để bị cáo thấy khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sửa chữa như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị hại vắng mặt nhưng quá trình điều tra, các bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ xám đen biển số 37V2-5563 mà Đậu Đình Đ sử dụng làm phương tiên phạm tội, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Đậu Đình T là bố đẻ của Đ. Quá trình cho Đ mượn xe, anh T không biết Đ sử dụng xe để phạm tội nên Công an TP.V đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đậu Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Đậu Đình Đ 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/05/2023.
Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo, nếu bị cáo Đậu Đình Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Đậu Đình Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND TP.V - VKSND tỉnh Nghệ An - Chi cục THADS TP.V - Công an thành phố V - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An - Bị cáo - Lưu HS | Hồ Nữ Hạnh Dung |