vanban.org

Bản án 130/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo Trần Quốc S 30.

Về án phí: Bị cáo Trần Quốc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Quoc S- Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài l…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo Trần Quốc S 30.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HS-ST
Ngày 19-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Như

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Vạn Huynh

Bà Nguyễn Thị Minh Thư

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Trong 19 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Quốc S, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1986 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Lê Thị T1; vợ: Lê Thị Thùy T2 (đã ly hôn), con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01 năm 2023, Trần Quốc S có nhu cầu muốn học và thi giấy phép lái xe hạng A1 để phục vụ việc điều khiển xe mô tô giao hàng cho các công ty. Tuy nhiên nhận thấy việc học và thi mất nhiều thời gian nên S nảy sinh ý lên mạng xã hội Facebook tìm hiểu các trang mua bán giấy phép lái xe hạng A1. Sau đó, S nhắn tin trao đổi với chủ một nick Facebook (S không nhớ địa chỉ cụ thể Facebook) về việc mua bán giấy phép lái xe hạng A1 giả. Qua trao đổi, chủ nick Facebook trên cho biết số tiền để làm giấy phép lái xe hạng A1 giả là: 1.000.000 đồng. S đồng ý và trực tiếp cung cấp thông tin họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú cho chủ nick Facebook trên.

Khoảng một tuần sau, một người đàn ông giao hàng gọi điện thoại cho S (S không lưu số điện thoại đồng thời cũng không nhớ tên Công ty giao hàng) để giao Giấy phép lái xe hạng A1 giả đã đặt mua trước đó. S yêu cầu giao giấy phép lái xe tại nhà ở thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, S nhận 01 giấy phép lái xe hạng A1 giả và trả tiền mặt 1.000.000 đồng cho người đàn ông đến giao giấy phép lái xe.

Khoảng 21 giờ ngày 17/02/2023, sau khi đi chơi với bạn bè về, S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76E1 – 712.18 lưu thông trên đường H theo hướng Đ - T. Khi đi đến trước số nhà B H thuộc phường Q, thành phố Q thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q yêu cầu dừng phương tiện, xuất trình giấy phép lái xe và kiểm tra nồng độ cồn. Sang dừng phương tiện và sử dụng giấy phép lái xe hạng A1 đã mua trên mạng xã hội cung cấp lực lượng Cảnh sát giao thông.

Quá trình kiểm tra sơ bộ hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính phát hiện S có dấu hiệu sử dụng giấy phép lái xe giả nên Phòng C Công an tỉnh Q đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định và tại bản kết luận giám định số: 13/KL-KTHS(HC) ngày 24/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng A1, số 510235022146, mang tên Trần Quốc S, ngày sinh 07/7/1986, nơi cư trú: M, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, ghi do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Q cấp ngày 02/02/2023 (ký hiệu A) gửi đến giám định là giấy giả”. Ngày 01/3/2023, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Q chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Trần Quốc S. Đến ngày 07/03/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q chuyển toàn bộ nội dung vụ việc nói trên đến đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q xác minh, điều tra theo đúng thẩm quyền.

Ngày 19/4/2023, Phòng K Công an tỉnh Q có kết luận giám định số 417/KL-KTHS kết luận như sau: “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng A1, số 510235022146, mang tên Trần Quốc S, ngày sinh 07/7/1986, nơi cư trú: M, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, ghi do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Q cấp ngày 02/02/2023 (ký hiệu A) gửi đến giám định là giấy giả”.

Ngày 30/5/2023, Sở Giao thông vận tải tỉnh Q có công văn số 1480/SGTVT-QLPY&NL trả lời:

“1. Sở G không cấp GPLX hạng A1, số 510235022146 cho công dân.

2. Sở G chưa cấp GPLX hạng A1 cho công dân: Họ và tên: TRẦN QUỐC S1, sinh năm: 1986, nơi cư trú: xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi”

Cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Trần Quốc S về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, xử phạt bị cáo Trần Quốc S từ 30 triệu đến 35 triệu đồng. Về xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe giả Cơ quan điều tra đã lưu vào hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Quốc S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Để có giấy phép lái xe hạng A1 phục vụ việc điều khiển xe mô tô giao hàng cho Công ty. Thông qua mạng xã hội bị cáo đã tìm mua “Giấy phép lái xe hạng A1, số E, mang tên Trần Quốc S do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Q cấp ngày 02/02/2023” với giá 1.000.000 đồng. Bị cáo đã sử dụng tài liệu này để điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ và xuất trình tài liệu này khi bị lực lượng Cảnh sát giao thông tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu dừng phương tiện và kiểm tra nồng độ cồn. Theo bản kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q thì tài liệu Giấy phép lái xe hạng A1 bị cáo sử dụng là giả và theo văn bản số 1480/SGTVT-QLPY&NL ngày 30/5/2023 của Sở G trả lời không cấp giấy phép lái xe hạng A1 mà bị cáo sử dụng cho bị cáo. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước trong việc quản lý tài liệu, giấy tờ của cơ quan tổ chức; gây ảnh hưởng xấu, làm giảm uy tín của cơ quan tổ chức và trật tự, an ninh chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt nên xét thấy xử phạt bị cáo với mức phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe giả Cơ quan điều tra đã lưu vào hồ sơ vụ án.

Các tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với người làm, cung cấp giấy phép lái xe giả và người giao giấy phép lái xe: Bị cáo khai không nhớ tài khoản facebook đã mua bằng và không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông giao giấy phép lái xe nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo Trần Quốc S 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)

2. Về án phí: Bị cáo Trần Quốc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ