vanban.org

Bản án 130/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. VKSND huyện An Dương; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HS-ST
Ngày 11-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Thi

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2023/TLST-HS ngày 26/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HS ngày 21/11/2023 đối với bị cáo:

Lê Thùy D sinh ngày 10/10/1993 tại Hà Nội. Nơi cư trú hiện nay: 36/19 T, phường T, Quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị T; có chồng Mai Chí T và có 02 con; tiền án: Bản án số 56 ngày 25/11/2020 Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án số 88 ngày 24/12/2020 Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Quyết định tổng hợp hình phạt số 05 ngày 11/10/2021 Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương buộc bị cáo phải chấp hành 48 tháng tù; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 360 ngày 24/9/2014 Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án số 243 ngày 26/11/2015 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong - Bộ Công an; tại địa chỉ: Thị trấn Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (theo Biên bản bắt người đang bị truy ngày 26/6/2023 của Công an thành phố Hà Nội và Biên bản giao nhận người bị bắt truy nã trốn thi hành án ngày 26/6/2023 giữa Công an thành phố Hà Nội với Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội); vắng mặt - có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị T sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ này 19/11/2021 tại quán cắt tóc, gội đầu của chị Trần Thị T thôn Đào Yêu, xã Hồng Thái, huyện An Dương; chị Thúy để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen trên thảm tập Yoga ở giữa phòng khách rồi đi xuống bếp. Lúc này, Lê Thuỳ D, đi bộ từ nhà trọ tại khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị Vui, sinh năm 1955, ở thôn Đào Yêu, xã Hồng Thái, huyện An Dương đến quán của chị T để gội đầu. D thấy quán không đóng cửa, đứng gọi vài câu nhưng không ai trả lời nên tiếp tục đi vào trong quán, mục đích tìm chủ quán. Khi đi vào đến khu vực cửa ngăn cách giữa quán gội đầu và phòng khách của nhà chị T, D nhìn thấy chiếc điện thoại di động trên thảm tập Yoga nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu. D lấy chiếc điện thoại giấu vào túi quần bên phải rồi đi ra ngoài về hướng đường 351. Trên đường đi, D tắt nguồn chiếc điện thoại trên, sau đó vào quán Internet thuộc thôn Đào Yêu, xã Hồng Thái, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng để ngồi chơi. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, chị T phát hiện bị mất điện thoại nên đã sang nhà chị Phạm Thị Phương Thanh, sinh năm 1990, trú tại thôn Đào Yêu, xã Hồng Thái, huyện An Dương để xem nhờ hình ảnh camera nhà chị Thanh, phát hiện lúc 21 giờ 06 phút có 01 đối tượng nữ giới mặc áo khoác màu cam, quần đùi màu đen đi vào nhà chị T sau đó đi ra ngay sau khoảng 01 phút. Chị T đi tìm thì phát hiện D có đặc điểm giống với đối tượng trên hình ảnh camera đã xem nên đã yêu cầu về nhà chị T để nói chuyện. Tại nhà chị Thúy, D thừa nhận việc đã lấy trộm và trả lại chiếc điện thoại di động trên cho chị T. Chị Thúy trình báo Công an xã Hồng Thái về vụ việc nêu trên.

Kết luận định giá tài sản ngày 29/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, dung lượng 32GB, số máy: MNQM2B/A, số IMEI 359215073326788; 01 chiếc ốp lưng điện thoại bằng nhựa trong suốt, kích thước 16cm x 08cm, tình trạng máy điện thoại và ốp lưng đó đã qua sử dụng, vẫn hoạt động bình thường khi được cấp nguồn, vỏ ngoài điện thoại trầy xước tại nhiều vị trí, các phím chức năng hoạt động bình thường, ốp điện thoại đã qua sử dụng, chất lượng silicon, vỏ ngoài trầy xước, mất khả năng đàn hồi, không có giá trị sử dụng. Chất lượng sử dụng còn lại của chiếc điện thoại di động nói trên là khoảng 50%. Giá trị định giá: 2.500.000 đồng.

Về vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen Công an huyện An Dương đã trả lại cho bị hại sử dụng.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Chủ tọa công bố công khai các tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 117/2023/CT-VKS ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương truy tố bị cáo Lê Thùy D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của BLHS xử phạt bị cáo từ 21 đến 24 tháng tù; tổng hợp với 48 tháng (trong đó 18 tháng tù tại Bản án số 56 ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương và 30 tháng tù tại Bản án số 88 ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) theo Quyết định tổng hợp hình phạt số 05 ngày 11/10/2021 Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương buộc bị cáo phải chấp hành; miễn hình phạt bổ sung. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về việc vắng mặt của bị cáo: Bị cáo đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử do Tòa án tống đạp nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, được Trại giam Thanh Phong xác nhận. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị cáo.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Hành vi vào 21 giờ ngày 19/11/2021 tại nhà chị T ở thôn Đào Yêu, xã Hồng Thái, huyện An Dương, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của chị Trần Thị T gây thiệt hại trị giá 2.500.000 đồng là phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Các chứng cứ xác định bị cáo không có tội được loại trừ.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Về hình phạt: Với phân tích trên cần xử bị cáo mức án khởi điểm như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung : Khoản 5 Điều 173 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, do hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không áp dụng.

Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt 18 tháng tù tại Bản án số 56 ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương và 30 tháng tù tại Bản án số 88 ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; cộng thành 48 tháng tù theo Quyết định tổng hợp hình phạt số 05 ngày 11/10/2021 Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 của BLHS để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án buộc bị cáo phải chấphành; thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2023 (ngày bị bắt giam theo Quyết định truy nã số 480 ngày 30/5/2023 của Công an thành phố Hà Nội).

Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Bị hại không yêu cầu bồi thường khoản nào khác nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Thùy D 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp với 48 tháng tù theo Quyết định tổng hợp hình phạt số 05 ngày 11/10/2021 Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (tổng hợp hình phạt 18 tháng tù tại Bản án số 56 ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về tội Trộm cắp tài sản và 30 tháng tù tại Bản án số 88 ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương về tội Trộm cắp tài sản) buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của các bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2023 (ngày bị bắtgiam theo Quyết định truy nã số 480 ngày 30/5/2023 của Công an thành phố Hà Nội). Thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt của Bản án số 56 ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương và Bản án số 88 ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ