vanban.org

Bản án 130/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ các điều 28, 35, 39 khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ …

[2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn” của ông Lương Văn Đ đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T. Ông Lương Văn Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Văn Đ- Nguyễn Thị Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ các điều 28, 35, 39 khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ …
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BỀN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16 - 8 - 2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

-.Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lem.

Bà Nguyễn Thị Phương Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 158/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lương Văn Đ, sinh năm 1976.

Địa chỉ: số a, ấp B1, xã B, huyện G, tỉnh B.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1983.

Địa chỉ: ấp a, xã T, huyện G, tỉnh B.

Ông Lương Văn Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bà Nguyễn Thị Ngọc T vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nguyên đơn ông Lương Văn Đ trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2003, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/02/2003 tại UBND xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ban đầu ông và bà T chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó giữa ông và bà T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và thường xuyên cự cãi. Do đó, ông và bà T đã ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay và không sống chung lại với nhau ngày nào. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn và tiếp tục chung sống với nhau nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông Đ khai ông và bà T không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ khai ông và bà T không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Ngọc T vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết và cho đến trước phiên tòa hôm nay Thẩm phán thực hiện đúng các bước theo thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành và tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phía nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn Đ đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đ đối với bà T. Về con chung: ông Lương Văn Đ khai ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T không có con chung nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: ông Đ khai giữa ông và bà T không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Ngọc T đều vắng mặt dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập bà T tham gia kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà T vẫn vắng mặt không lý do; Về phía ông Lương Văn Đ có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lương Văn Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc T.

Về nội dung vụ án: Ông Lương Văn Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn ngày 26/02/2003 tại UBND xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vì vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Theo lời trình bày của ông Đ cho rằng sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng sau đó giữa ông và bà T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và thường xuyên cự cãi. Do đó, đã làm tình cảm rạn nứt, gia đình không còn êm ấm và hạnh phúc như trước kia nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Xét thấy, giữa ông Lương Văn Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc T có thời gian ly thân đã lâu, trong thời gian này giữa ông Đ và bà T không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Tòa án thông báo cho bà T các phiên hòa giải, mục đích động viên cho bà và ông Đ đoàn tụ sống lại với nhau nhưng bà T không chấp hành, xem như bà T đã từ bỏ quyền của mình và không có thiện chí đoàn tụ với ông Đ. Mặt khác, ông Đ kiên quyết ly hôn, không đồng ý đoàn tụ với bà T. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở thương yêu, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, bền vững nhưng ông Đ và bà T không đảm bảo nguyên tắc này. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ đối với bà T.

Về con chung: ông Đ khai giữa ông và bà T không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: ông Đ khai giữa ông và bà T không có.

Lời phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tại phiên tòa về vấn đề tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là phù hợp. Về nội dung giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình: Ông Lương Văn Đ phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ các điều 28, 35, 39 khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn” của ông Lương Văn Đ đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T.

Ông Lương Văn Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T.

[3] Về con chung: Ông Lương Văn Đ khai ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T không có.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lương Văn Đ khai ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T không có.

[5] Về án phí: Ông Lương Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0003344 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

[6] Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai tại UBND nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ