vanban.org

Bản án 130/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc T; Xử cho chị Nguyễn Ngọc T được ly hôn với anh Võ Thanh Tr.

2/. Về nuôi con chung: Giao người con tên Võ Quỳnh Nh, sinh ngày 21/01/2007 cho chị Nguyễn Ngọc T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Anh Võ Thanh Tr có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc T và anh Võ Thanh Tr"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc T; Xử cho chị Nguyễn Ngọc T được ly hôn với anh Võ Thanh Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02/8/2023
(V/v Tranh chấp xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng

Các hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Nguyễn Văn Tịnh

2/. Ông Nguyễn Văn Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 315/2023/TLST-HN ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1984

Địa chỉ: ấp QC, xã ATA, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

2/. Bị đơn: Anh Võ Thanh Tr, sinh năm 1981

Địa chỉ: ấp QC, xã ATA, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh Tr vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Thanh Tr cưới nhau vào khoảng năm 2004. Có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau đó vợ chồng anh chị có đi đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2004 và được Ủy ban nhân dân xã ATA cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Lý do xin ly hôn: Lúc đầu khi cưới nhau về thì vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì vợ chồng anh chị xảy ra nhiều quan điểm trái ngược nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp với nhau. Hiện tại mâu thuẫn giữa hai vợ chồng càng lúc càng trầm trọng, không thể hàn gắn lại được và anh chị đã ly thân cách đây khoảng hơn 05 năm. Nay chị thấy cuộc sống chung giữa vợ chồng anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và chị cũng không còn tình cảm gì với chồng chị, nên chị yêu cầu xin được ly hôn với chồng chị là Võ Thanh Tr.

Về con chung: vợ chồng anh chị có 02 người con chung tên Võ Thúy D, sinh năm 15/02/2005 và Võ Quỳnh N, sinh ngày 21/01/2007. Hiện nay người con lớn đã trưởng thành có khả năng tự lo lắng chăm sóc cho bản thân, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án xem xét, còn người con nhỏ thì đang sống cùng chị, chị vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung. Khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với anh Võ Thanh Tr: Mặc dù anh Tr đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Tr vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án, và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Tr theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Võ Thanh Tr chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: giữa chị T và anh Tr chung sống hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, hiện tại chị T xác định anh không còn tình cảm với anh Tr. Điều này chứng tỏ như vậy cuộc sống vợ chồng của chị T và anh Tr nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh Tr là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Đối với người con tên Võ Thúy D, sinh năm 15/02/2005 hiện nay đã trưởng thành, có khả năng tự lo lắng chăm sóc cho bản thân, khi ly hôn chị T và anh Tr không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Còn đối với người con là Võ Quỳnh Nh, sinh ngày 21/01/2007, thì từ lúc chị T và anh Tr ly thân là do chị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Chị T vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Đồng thời nguyện vọng của cháu Võ Quỳnh Nh cũng mong muốn được tiếp tục tục sống cùng với chị T. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao người con tên Võ Quỳnh Nh, sinh ngày 21/01/2007 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Anh Tr có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị T và anh Tr không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí thì chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Tr. Anh Tr có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị T có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T.

Anh Tr đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Tr vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Tr.

Về nội dung vụ án: giữa chị T và anh Tr kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã ATA cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2004 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Tr thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị T và anh Tr lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân cách đây khoảng hơn 05 năm. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Quá trình tố tụng chị T cũng xác định hiện tại chị không còn tình cảm gì với anh Tr, nếu vợ chồng quay về với nhau thì cuộc sống chung cũng không còn hạnh phúc.

Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm của vợ chồng phải được xuất phát từ hai phía, nhưng phía chị T xác định hiện tại chị đã không còn tình cảm gì với anh Tr, như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị T và anh Tr là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Tr là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Đối với người con tên Võ Thúy D, sinh năm 15/02/2005 hiện nay đã trưởng thành, có khả năng tự lo lắng chăm sóc cho bản thân, khi ly hôn chị T và anh Tr không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Còn đối với người con là Võ Quỳnh Nh, sinh ngày 21/01/2007, thì từ lúc chị T và anh Tr ly thân là do chị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Chị T vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Đồng thời nguyện vọng của cháu Võ Quỳnh Nh cũng mong muốn được tiếp tục tục sống cùng với chị T. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao người con tên Võ Quỳnh Nh, sinh ngày 21/01/2007 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Về mức cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Anh Tr có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh Tr không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc T; Xử cho chị Nguyễn Ngọc T được ly hôn với anh Võ Thanh Tr.

2/. Về nuôi con chung: Giao người con tên Võ Quỳnh Nh, sinh ngày 21/01/2007 cho chị Nguyễn Ngọc T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.

Anh Võ Thanh Tr có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: không đặt ra xem xét giải quyết.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: chị Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000275 ngày 12/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Nguyễn Ngọc T và anh Võ Thanh Tr biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ