- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THỊ D - NGUYỄN HOÀNG T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2023/HNGĐ-ST Ngày 07-12-2023. V/v “Ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Đỗ Thị Cẩm Tú.
2- Bà Trần Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền -Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Lê Thị D, sinh ngày 01/01/1977.
2- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 01/01/1977.
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
(Các đương sự đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị D trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T kết hôn với nhau năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, cách đây khoản 6 tháng thì phát sinh ra mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
Về con chung: Có 03 người con tên Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 06/01/2003, Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 16/10/2004 và Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 12/01/2016. Nay chị yêu cầu xin được nuôi cháu Nguyễn Ngọc A, không yêu cầu anh Thanh cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Ngọc S và Nguyễn Hoàng D đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Tự vợ chồng thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Theo bị đơn anh Nguyễn Hoàng T trình bày như sau: Anh thừa nhận theo lời trình bày của chị Lê Thị D về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và nợ chung nêu trên là đúng hoàn toàn.
Nay theo yêu cầu của chị Lê Thị D, thì anh có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Lê Thị D.
Về con chung: Anh đồng ý giao con Nguyễn Ngọc A cho chị D nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Ngọc S và Nguyễn Hoàng D đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh thừa nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay: Chị Lê Thị D giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã nêu trên. Ngoài ra không có kiến kiến, yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Hoàng T giữ nguyên ý kiến như đã trình bày nêu trên. Ngoài ra không có kiến kiến, yêu cầu gì thêm.
Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T.
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T là giao cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 12/01/2016 (theo nguyện vọng của cháu A) cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Ngọc S và Nguyễn Hoàng D đã trưởng thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T tự thỏa thuận mà không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T kết hôn với nhau năm 2000, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của chị D và anh T không hợp pháp.
Tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Khoản 1 Điều 14 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T.
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T là giao cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 12/01/2016 (theo nguyện vọng của cháu A) cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Ngọc S và Nguyễn Hoàng D đã trưởng thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T tự thỏa thuận mà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị D phải chịu tiền án phí 300.000đ, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộ là 300.000đ. Vậy chị D đã nộp đủ tiền án phí.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 14, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T là giao cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 12/01/2016 (theo nguyện vọng của cháu A) cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Ngọc S và Nguyễn Hoàng D đã trưởng thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị D và anh T có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T tự thỏa thuận mà không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Lê Thị D và anh Nguyễn Hoàng T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị D phải chịu tiền án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số: 0008967 ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị D đã nộp đủ tiền án phí.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị D và anh T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/12/2023).
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - CC-THADS huyện; - VKSND huyện, tỉnh; - Các đương sự; - Lưu HS, án văn (V). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Tâm |