- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2022/ST - HNGĐ Ngày 27/9/2021. “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lộc Văn Việt;
2. Ông Kha Văn Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2022/TLST - HNGĐ ngày 13/7/2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST - DS ngày 14 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Khương Văn H - sinh năm 1992.
2. Bị đơn: Chị Kha Thị Q - sinh năm 1992. Đều có địa chỉ tại: Thôn T Y, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Anh H có mặt; chị Q vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 11/7/2022 của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Khương Văn H trình bày: Anh và chị Kha Thị Q đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 26/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống với nhau hạnh phúc được 7 - 8 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân do quan điểm, tính cách không phù hợp, kinh tế khó khăn, vợ chồng lại không hiểu và thông cảm cho nhau cùng nhau vượt khó dẫn đến mâu thuẫn càng trầm trọng. Năm 2020 chị Q đi làm ăn xa, có quan hệ bất chính với người đàn ông khác, khi anh H biết được sự việc đã tha thứ, khuyên nhủ chị về nhà để làm ăn và nuôi con nhưng chị không đồng ý. Quá trình xẩy ra mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện mà còn trầm trọng hơn. Hiện nay tình cảm vợ chồng thực sự không còn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly chị Kha Thị Q
Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị Q có 02 người con là Khương Thị Thu H, sinh ngày 12/9/2012 và Khương Văn T, sinh ngày 19/01/2017. Nay ly hôn anh có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Anh tự thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh và chị Q không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ anh chị.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm chị Q vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/7/2022 cháu Khương Thị Thu H có nguyện vọng được ở với bố.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn ly hôn của anh Khương Văn H. Anh H và chị Q chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung Khương Thị Thu H, sinh ngày 12/9/2012 và Khương Văn T, sinh ngày 19/01/2017 cho anh Khương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh H không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; về án phí: Buộc anh Khương Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn hiện cư trú tại thôn T Y, xã Yên Khê, huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, qua xác minh ngày 14/7/2022 tại Ban công an xã Yên Khê, huyện Con Cuông cho thấy chị Q có hộ khẩu thường trú tại thôn T Y, xã Yên Khê, huyện Con Cuông nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, đi đâu cũng không thông báo cho chính quyền địa phương biết nên không biết địa chỉ hiện nay của chị Q ở đâu. Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ - HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Kha Thị Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Q không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy anh Khương Văn H và chị Kha Thị Q có đăng ký kết hôn vào ngày 26/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không có ai ép buộc, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị Q là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng anh H và chị Q chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh H và chị Q thường xuyên cãi cọ, kinh tế khó khăn chị Q đi làm ăn xa sống không chung thủy làm mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, như vậy anh H và chị Q đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa chị Q vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy quá trình kết hôn và chung sống giữa anh H và chị Q xảy ra mâu thuẫn không thể giải quyết được. Mẹ chị Q cũng thừa nhận việc mâu thuẫn vợ chồng được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị Q không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận cho anh Khương Văn H ly hôn chị Kha Thị Q
Về con chung: Vợ chồng anh H và chị Q có hai người con chung tên là Khương Thị Thu H, sinh ngày 12/9/2012 và Khương Văn T, sinh ngày 19/01/2017. Hiện nay các cháu đang sống với anh H và ông bà nội tại bản T Y, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Quá trình giải quyết vụ án anh H có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng tiền nuôi con, tại biên bản lấy lời khai cháu H có nguyện vọng được ở với bố. Anh H hiện nay là lao động tự do thu nhập khoảng 4 - 5 triệu/tháng vẫn có thể đảm bảo để nuôi dạy các cháu. Mặt khác hiện nay chị Q không có mặt ở địa phương, việc giao con cho chị Q nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con, xét thấy, nguyện vọng của anh H là chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Do vậy cần giao hai người con chung cho anh Khương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H chưa yêu cầu nên chưa giải quyết.
Về tài sản chung: Do anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này chị Q yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Anh Khương Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Khương Văn H được ly hôn chị Kha Thị Q.
- Về con chung: Giao con chung tên là Khương Thị Thu H, sinh ngày 12/9/2012 và Khương Văn T, sinh ngày 19/01/2017cho anh Khương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu H và cháu T tròn 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H chưa yêu cầu nên chưa giải quyết.
Chị Kha Thị Q có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Anh H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, anh Khương Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000512 ngày 13/7/2022. Anh H đã nạp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã Yên Khê; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |