vanban.org

Bản án 130/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội “Cố ý Gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Đình D 08 (tám) tháng tù , nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội “Cố ý Gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 130/2022/HSST
Ngày: 23/8/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Yêm.

Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hoài - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2022/HSST ngày 19/7/2022 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Đình D, sinh năm 1988; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn M, xã Bắc H, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe ô tô; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn B (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Y; Vợ : Lưu Thị G; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/8/2020, Công an huyện Đông Anh xử phạt hành chính về hành vi Hủy hoại tài sản hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản (đã nộp phạt).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị D ( tức Nguyễn Thị Hồng D), sinh năm 1959.

HKTT: Thôn Đ, xã X, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

Trú tại: Thôn M, xã Bắc H, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1984.

2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984.

HKTT: Thôn Đ, xã X, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

Cùng trú tại: Thôn M, xã Bắc H, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 10/7/2021, bà Nguyễn Thị D đang quét đường tại cổng thì Nguyễn Đình D điều khiển xe ô tô màu đen biển kiểm soát 30G-132.88 đi qua chỗ bà D đứng. Sau đó, bà D nói với D “tao làm gì mày mà mày chửi tao”, D hạ cửa kính xe ô tô xuống để xem ai nói, rồi tiếp tục kéo cửa kính lên điều khiển xe ô tô đi tiếp. Bà D tiếp tục nói “Đ. Mẹ mày, Đ. bố mày”. Lúc này, D mới điều khiển xe đi được khoảng 5m thì D dừng xe lại, xuống xe. D tiến lại gần vị trí bà D đứng thấy bà D cầm nửa viên gạch lục (dài khoảng 10cm) ném về phía D nhưng không trúng. Bà D tiếp tục cầm viên gạch khác. D tiến sát bà D dùng tay phải túm vào tay bà D xô đẩy để giằng viên gạch với bà D. Quá trình D giằng co với bà D làm bà D bị ngã xuống đường bê tông, lưng bà D đập xuống đường. Sau đó, D bỏ đi ra xe ô tô để tiếp tục đi làm, bà D cầm nửa viên gạch lục ném về phía D nhưng không trúng người D, viên gạch trúng biển kiểm soát phía sau xe ô tô của D, D điều khiển xe ô tô bỏ đi. Sau đó bà D được con trai là anh Nguyễn Văn C (sinh năm 1984) đưa đến Bệnh viện đa khoa Đông Anh khám thương.

[2] Vật chứng tạm giữ của chị Nguyễn Thị T (là con dâu bà D): 01 USB nhãn hiệu Kingston màu trắng.

[3] Giấy chứng nhận thương tích số 60/CN ngày 06/8/2021, của Bệnh viện đa khoa Đông Anh xác định thương tích của bà Nguyễn Thị D như sau:

- Bệnh nhân vào viện hồi 07h09’ ngày 10/7/2021, bệnh nhân ra viện hồi 16h00’ ngày 16/7/2021,

- Tình trạng bệnh nhân lúc vào viện: bệnh nhân khai bị đánh vào lưng, sau tai nạn, bệnh nhân tỉnh, đau cột sống thắt lưng, hạn chế vận động cột sống thắt lưng, không tê bì yếu liệt hai chân; tỉnh, G:15 điểm, thể trạng gầy; da niêm mạc hồng, HA: 130/70 mmHg, mạch 86l/phút; đau cột sống thắt lưng, không lan hai chân, cơ lực hai bên 5/5; co cứng cơ cạnh sống hai bên, ấn đau từ D11 - L2; tim đều, phổi rì rào phế nang rõ, ngực vững, cổ vững, bụng mềm, tứ chi không biến dạng, XQ xẹp L1; CT CSTL vỡ xẹp mặt ngoài L1 đẩy lồi trường sau, gây hẹp ống sông khoảng 20%; chẩn đoán xẹp L1 mất vững, điều trị phẫu thuật cố định cột sống thắt lưng L1 bằng nẹp vis/C-arm;

- Tình trạng bệnh nhân lúc ra viện: tỉnh, G:15 điểm, da niêm mạc hồng, đau nề vết mổ vùng +lưng, không liệt, tim đều, phổi RRPN rõ, bệnh nhân ra viện điều trị tiếp.

[4] Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1027/TTPY của Trung tâm pháp y Hà Nội ngày 11/10/2021, kết luận giám định pháp y thương tích của bà Nguyễn Thị Dân như sau: Sẹo mổ dọc cột sống thắt lưng: 02%; vỡ xẹp L1: 21%; thương tích do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 23% (hai mươi ba phần trăm) tính theo phương pháp cộng lùi.

Ngày 28/01/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện Đông Anh có Công văn số 356 ngày 27/01/2022 gửi Trung tâm pháp y Hà Nội về việc thương tích bị vỡ xẹp L1 của bà Nguyễn Thị D là do bệnh lý hay do tác động của ngoại lực tác động.

Ngày 09/02/2022, trung tâm pháp y Hà Nội có công văn trả lời số 69/TTPY như sau:

- Tại thời điểm bị thương ngày 10/7/2021, bà D bị đau và hạn chế vận động cột sống lưng sau đó được đưa vào bệnh viện đa khoa Đông Anh khám và điều trị với chẩn đoán: vỡ xẹp mất vững L1 đẩy lồi trường sau gây hẹp khoảng 20% ống sống sau đó được chỉ định can thiệp phẫu thuật cố định cột sống.

- Ngày 08/9/2021, Trung tâm pháp y Hà Nội đã tiến hành giám định cho bà Nguyễn Thị D kết hợp với các kết quả khám bệnh, đọc lại phim cắt lớp vi tính, Xquang cột sống thắt lưng tại thời điểm bị thương và thời điểm giám định, Trung tâm pháp y Hà Nội đã xác định bà Nguyễn Thị D bị vỡ xẹp L1 đã được phẫu thuật kết hợp xương. Tổn thương này do tác động của lực trên nền bệnh nhân bị thoái hóa, loãng xương do tuổi già toàn bộ cột sống thắt lưng. Các tổn thương bệnh lý là yếu tố thuận lợi làm cho việc khi bị tác động của ngoại lực dẫn tới vỡ xẹp cột sống.

[5] Tại bản kết luận giám định số 8188/C09 - P6 ngày 01/12/2021 của Viện khoa học hình sự đối với giám định kỹ thuật số và điện tử trong USB do chị Nguyễn Thị T giao nộp đã kết luận:

- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định.

- Đã mô tả hành động của các đối tượng trong file “video 01.dav” gửi giám định. Chi tiết thể hiện trong bản ảnh kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh gồm 07 trang giấy A4.

[6] Tại bản kết luận định giá tài sản số 114/HĐĐGTS ngày 22/4/2022, của Hội đồng định giá tài sản huyện Đông Anh đã kết luận : 01 tấm nhựa ốp biển kiểm soát xe ô tô kích thước 20 x 28 (cm) bị rạn nứt tại góc phải bên dưới tấm ốp thiệt hại 100.000 đồng.

[7] Tại Cơ quan Điều tra bà Nguyễn Thị D khai phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bà D yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Đình D. Ngoài ra ngày 29/10/2021, bà D có đơn tố giác về việc ngày 09/5/2021, Nguyễn Đình D và đồng bọn có hành vi đe dọa giết người, cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị T.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 09/5/2021, anh Nguyễn Văn C đỗ xe ô tô trước cổng nhà Nguyễn Đình D, sau đó anh C và D to tiếng với nhau. Lúc này, chị Nguyễn Thị T (vợ anh C) đứng tại cổng nhà chị T cầm điện thoại di động Iphone 6s plus ghi hình lại sự việc xảy ra. Chị Nguyễn Thị V (sinh năm 1987; chỗ ở hiện nay và chỗ ở: thôn M, xã B, huyện Đông Anh, Hà Nội; chị dâu của D) nghe thấy to tiếng nên chạy sang nhà D xem có chuyện gì thì thấy chị T đang cầm điện thoại quay video sự việc nên tiến lại chỗ chị T để nói chuyện. Quá trình chị T quay video tự làm rơi điện thoại xuống mặt đường dẫn đến điện thoại bị vỡ, chị V không tác động và cũng không đập vỡ điện thoại di động iphone 6s plus của chị T. Sau đó, anh C tiếp tục lái xe ô tô đi và sự việc kết thúc.

Như vậy, không có sự việc anh Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T bị đánh gây thương tích, không có sự việc chị Nguyễn Thị V có hành vi đập vỡ điện thoại của chị T, không có sự việc đe dọa giết người xảy ra theo đơn trình báo của bà Nguyễn Thị D.

[8] Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Đình D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Đình D đã tự nguyện nộp cho Cơ quan Điều tra 15.000.000 đồng và ngày 01/8/2022 Nguyễn Đình D đã tự nguyện nộp 35.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh để khắc phục hậu quả cho bà D.

Ngày 10/7/2021 bà Nguyễn Thị D,có hành vi vi phạm hành chính là “có cử chỉ, lời nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” và “cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”, ngày 10/6/2022, Công an huyện Đông Anh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt là 3.700.000 đồng.

[9] Đối với chi phí chữa bệnh của bà D tại bệnh viện đa khoa Đông Anh hết số tiền là 57.856.599 đồng, trong đó bảo hiểm xã hội huyện Đông Anh đã chi trả 43.751.519 đồng và bà D tự chi trả là 14.105.080 đồng.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện Đông Anh đã có công văn số 1376/CQĐT-ĐTTH gửi bảo hiểm xã hội huyện Đông Anh quan điểm về số tiền bảo hiểm đã chi trả nhưng bảo hiểm xã hội huyện Đông Anh có văn bản trả lời không yêu cầu Nguyễn Đình D trả lại số tiền bảo hiểm đã chi trả cho bà D.

Về dân sự:

Bà Nguyễn Thị D yêu cầu Nguyễn Đình D bồi thường tổng số tiền 240.000.000 đồng. Trong đó: tiền viện phí, tiền thuốc là 110.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của bà Dân là 60.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của con trai, con dâu bà là 40.000.000 đồng; tiền tổn thất về sức khỏe là 30.000.000 đồng.

Nguyễn Đình D yêu cầu bà D bồi thường 100.000 đồng.

[10]. Tại bản cáo trạng số 115/CT - VKS ngày 14/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình D về tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Đình D đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 134; Điều 38, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự.

+ Xử phạt Nguyễn Đình D từ 06 đến 08 tháng tù;

+ Buộc bị cáo bồi thường cho cho bà Nguyễn Thị D số tiền chi phí khám chữa bệnh có chứng từ, hóa đơn hợp lệ.

+ Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường tổn hại sức khỏe cho bà dân số tiền 50.000.000 đồng.

+ Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo rút yêu cầu buộc bà D bồi thường 100.000 đồng thiệt hại về tài sản của bị cáo do bà D gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 10/7/2021 tại cổng nhà của bà Nguyễn Thị D tại thôn M, xã B, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Đình D đã có hành vi xô đẩy làm bà Nguyễn Thị D bị ngã xuống đường, hậu quả bà D bị tổn hại 23% sức khỏe.

Bị cáo là người đã thành niên nên buộc phải nhận thức được hành vi sử dụng tay xô đẩy người cao tuổi dẫn đến bị ngã gây thương tích là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hậu quả là bà Nguyễn Thị D bị ngã và tổn hại sức khỏe với tỷ lệ thương tích là 23%.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự nơi công cộng, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của nơi dân cư.

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% …thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

. Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu.

. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo cùng gia đình nhiều lần sang nhà bà D để xin bồi thường, khắc phục hậu quả nhưng bà D không tiếp, do vậy bị cáo đã tự nguyện nộp 15.000.000 đồng tại Cơ quan Điều tra và 35.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh để khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại. Bản thân bị cáo đã có thành tích tốt trong học tập của quân Đoàn 2 Bộ Quốc phòng và đã được khen thưởng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi của người bị hại vì khi bị cáo điều khiển xe ô tô đi qua trước cổng nhà của người bị hại thì người bị hại đã có cử chỉ, lời nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bị cáo và dùng viên gạch ném vào bị cáo cũng như ném vào ô tô của bị cáo, làm hư hỏng biển số xe ô tô của bị cáo, nên ngày 10/6/2022, Công an huyện Đông Anh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt là 3.700.000 đồng đối với người bị hại về hành vi “có cử chỉ, lời nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” và “cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”.

Như vậy hành vi gây thương tích của bị cáo đối với bà D, thuộc trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.

Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/202 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội với thời gian thử thách nhất định, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung.

. Về trách nhiệm dân sự:

Do bị thương tích nên bà Nguyễn Thị D phải điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh từ ngày 10/7/2021 đến 08h ngày 16/10/2021 thì ra viện.

Bà D xuất trình các phiếu thu tiền từ ngày 11/7/2022 đến ngày 19/7/2022 gồm: 635.000 đồng (ngày 11/7/2021) đồng, 3.060.000 đồng (ngày 11/7/2021), 5.734.000 đồng (ngày 11/7/2021), 7.075.290 đồng (ngày 16/7/2021 là khoản tiền mua thuốc, vật tư kèm theo bảng kê) và 11.045.080 đồng (ngày 19/7/2021 là khoản tiền thanh toán khám chữa bệnh nội trú khi ra viện) và các phiếu thu tiền cược Viện phí.

Đây là các khoản tiền đã được liệt kê trong bảng kê chi phí khám chữa bệnh của bênh viện Đa khoa Đông Anh và đã được quyết toán khi bà D ra viện có tổng chi phí là 54.689.399 đồng. Trong đó Bảo hiểm xã hội huyện Đông Anh đã chi trả 43.751.519 đồng, bà D tự chi trả là 10.937.880 đồng khi ra viên (BL 253, 254).

Ngoài ra bà D còn phải chi 3.060.000 đồng ngày 22/7/2021 (BL 255), là khoản tiền chi phí cho việc phẫu thuật kỹ thuật cao và Dịch vụ đặt, chăm sóc kim luồn lưu sau khi ra viện.

Tổng các khoản chi phí thực tế bà D phải trả trong quá trình khám chữa bệnh là: 3.060.000 đồng + 10.937.880 đồng = 13.997.880 đồng. Đây là khoản chi phí thực tế phát sinh trực tiếp từ hành vi trái pháp luật của bị cáo, do vậy buộc bị cáo phải bồi thường cho bà D theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.

- Đối với yêu cầu của bà D về việc buộc bị cáo phải bồi thường về khoản mất thu nhập của anh C, chị T và bà D cũng như tiền tổn hại về tinh thần của bà D.

Xét thấy: bà D chỉ nằm Viện điều trị trong thời gian ngắn, từ ngày 10/7/2021 đến 08h ngày 16/7/2021, bà D là người cao tuổi, sống ở nông thôn, không có nghề nghiệp ổn định. Bà D, anh C, chị T cũng không xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Mặt khác việc bị cáo có hành vi phạm tội xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của bà D là: “Có cử chỉ, lời nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” và “cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 584 thì bị cáo không có nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại nêu trên. Do vậy yêu cầu này của bà D không được chấp nhận.

- Tại phiên tòa bị cáo rút yêu cầu buộc bà D bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng 01 tấm nhựa ốp Biển kiểm soát xe ô tô có trị giá là 100.000 đồng và tự nguyện bồi thường cho bà D tổng số tiền là 50.000.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo nên được ghi nhận.

Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra - Công an huyện Đông Anh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội “Cố ý Gây thương tích”.

2. Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 134; điểm b, điểm d, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự,

- Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Nguyễn Đình D 08 (tám) tháng tù , nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bà Nguyễn Thị D (tức Nguyễn Thị Hồng D) 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, được trừ số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng đã nộp tại biên lai số AA/2020/0034420 ngày 01/8/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh và số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng theo Giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản số 44 lập ngày 15/7/2022 tại kho bạc Nhà nước Đông Anh. Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong.

- Số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu) đồng theo Giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản số 44 lập ngày 15/7/2022 tại kho bạc Nhà nước Đông Anh và số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng đã nộp tại biên lai số AA/2020/0034420 ngày 01/8/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh được trả cho bà Nguyễn Thị D (tức Nguyễn Thị Hồng D).

- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc rút yêu cầu buộc bà Dân bồi thường cho bị cáo số tiền 100.000 đồng thiệt hại về tài sản do bà Nguyễn Thị Dân gây ra.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo và bà Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ