vanban.org

Bản án 130/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 12/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quỳnh H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 08/4/2022.

Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu sáng xe Lead, màu sơn đen, biển kiểm soát 29Z6-2406, số máy: 08A01057, số khung: 10181001376 đã qua sử dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quỳnh Hoa - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quỳnh H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 08/4/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BG
TỈNH BG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2022/HS-ST
Ngày 12 tháng 8 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Biên.

2. Ông Nguyễn Văn Bảng.

Thư ký phiên toà: Bà Tống L Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố BG.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh

BG và Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh BG, Tòa án nhân dân thành phố BG xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 128/2022/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo: Lê Quỳnh H, sinh năm 1974; Nơi đăng ký HKTT: Số nhà 37A4, phường TM, quận HM, thành phố HN. Chỗ ở hiện nay: Số nhà 54, ngách 3, ngõ 260, phố TM, phường TL, quận HM, thành phố HN. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 7/10. Con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1951 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952. Gia đình có 05 chị em, bị cáo là thứ 3. Bị cáo có chồng là Nguyễn Xuân T, sinh năm 1972 và có 03 con: con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 355 ngày 09/10/1997 của TAND quận BĐ, thành phố HN xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; chấp hành xong án phí ngày 02/4/2010 và được xóa án tích.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 38 ngày 18/10/1997 của TAND huyện Hoài Đ, tỉnh H (nay là thành phố HN) xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân”. Tổng hợp với hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 355 ngày 09/10/1997 của TAND quận BĐ, thành phố HN buộc H chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 17 tháng tù; đã chấp hành xong án phạt tù; chấp hành xong án phí ngày 02/4/2010 và được xóa án tích.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 22 ngày 26/7/2010 của TAND huyện LT, tỉnh BN xử phạt 27 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; chấp hành xong án phạt tù ngày 27/3/2012; chấp hành xong án phí ngày 16/9/2010 và được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BG (Có mặt).

* Bị hại:

- Anh Ngô Đ A, sinh năm 1996

Địa chỉ: Số nhà 65, đường Q T, phường T P, thành phố BG, tỉnh BG

- Chị Phạm Thị TH, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số 50-52 đường M T B, phường V H, thành phố N Đ, tỉnh N Đ

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Trần Thị Trang N, sinh năm 1994

Địa chỉ: Số 2/322 Đ B, phường C B, thành phố N Đ, tỉnh N Đ.

(Các bị hại và người đại diện của bị hại đều vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Chị Ngô Thị Hà M, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Số nhà 65, đường Q T, phường T P, thành phố BG, tỉnh BG

- Chị Hoàng T H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số 119, đường Q T, phường T P, thành phố BG, tỉnh BG

- Anh Nguyễn Đình An, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ dân phố số 2 M N, phường TM, quận NTL, thành phố HN

- Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Số 54, ngách 3, ngõ 260 phố TM, phường TL, quận HM, thành

phố HN

- Chị Lê Thị N L, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Số nhà 63, ngõ 254, đường M K, phường M Đ, quận HM, thành phố HN.

(Anh T, chị L có mặt, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quỳnh H, sinh năm 1974, đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 37A4,

phường TM, quận HM, thành phố HN; cư trú tại số nhà 54, ngách 3, ngõ 260, phố TM, phường TL, quận HM, thành phố HN đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại cửa hàng kinh doanh vàng trên địa bàn thành phố BG, tỉnh BG và thành phố N Đ, tỉnh N Đ, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ 17 phút ngày 12/12/2021, Lê Quỳnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu sơn đen, biển kiểm soát 29Z6-2406 đến cửa hàng vàng Kim Tài Phát ở số 65, đường Q T, phường T P, thành phố BG, mục đích lợi dụng sơ hở sẽ trộm cắp vàng. H vào cửa hàng gặp anh Ngô Đ A, sinh năm 1996 là chủ cửa hàng. H hỏi mua dây chuyền vàng và được anh Ngô Đ A đưa cho xem 02 chiếc dây chuyền. Sau khi xem xong, H tiếp tục đề nghị cho xem nhẫn nam vàng ta và được anh Đ A đưa cho xem 02 chiếc nhẫn vàng (một chiếc 3 chỉ, một chiếc 5 chỉ có mặt nhẫn hình vuông đính đá màu đỏ). H cầm chiếc nhẫn 5 chỉ đưa lên xem rồi đeo vào ngón tay áp út bên trái và trả lại chiếc nhẫn 3 chỉ cho anh Đ A cất vào tủ kính. Lúc này cửa hàng đang đông khách, lợi dụng thời điểm anh Ngô Đ A không để ý, H lén đi ra ngoài lấy xe mô tô và bỏ đi. Theo H khai khi về đến nhà thì phát hiện chiếc nhẫn mà H lấy trộm đã bị rơi mất.

Ngày 08/4/2022, Lê Quỳnh H đến cửa hàng vàng Tuấn Vinh ở số nhà 115, đường Q T, phường T P, thành phố BG mục đích để trộm cắp vàng thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, sau đó báo cho Công an thành phố BG. Công an thành phố BG triệu tập H về trụ sở làm việc thì H đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ của H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS 29Z6-2406; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số thuê bao 0912349173; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG số thuê bao 0943328211; số tiền 1.008.000 đồng; 01 áo khoác nữ màu hồng nhạt, có mũ liền áo; 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ lưỡi chai, màu trắng; 01 đôi dép lê màu đen, 01 chiếc áo chống nắng màu trắng có nhiều hình bông H màu đỏ. H khai đây là phương tiện và trang phục mà H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 12/12/2021.

Ngày 08/4/2022, anh Ngô Đ A giao nộp cho Cơ quan điều tra 04 đoạn

video được trích xuất từ camera tại cửa hàng vàng Kim Tài Phát ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản ngày 12/12/2021. Cơ quan điều tra đã cho H xem các đoạn video đã thu giữ. Kết quả H xác định hình ảnh người phụ nữ vào cửa hàng vàng Kim Tài Phát và trộm cắp chiếc nhẫn vàng 5 chỉ chính là H.

Ngày 09/4/2022, Cơ quan điều tra cho H thực nghiệm điều tra tại hiện trường cửa hàng vàng Kim Tài Phát. Kết quả H thực hiện thuần thục các tư thế, động tác trộm cắp tài sản như đã khai.

Kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐG ngày 13/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BG kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng 9999 (vàng ta) 05 chỉ, có mặt nhẫn hình vuông bằng đá màu đỏ, mua đầu tháng 12/2021, chưa qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 12/12/2021 là 26.500.000 đồng.

Kết luận giám định số 975/KL-KTHS ngày 08/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BG kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file video được lưu trong đĩa CD-R nhãn hiệu NEO, màu cam gửi giám định.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/6/2022, chị Lê Thị N L, sinh năm 1975 trú tại số nhà 63, ngõ 254, đường M K, phường M Đ, quận HM, thành phố HN (là em ruột H) đã bồi thường 30.000.000 đồng. Anh Ngô Đ A không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can H.

Vụ thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 06/4/2022, Lê Quỳnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29Z6-2406 đến cửa hàng vàng Hà Thành do chị Phạm Thị TH, sinh năm 1976, ở số 50-52 đường M T B, phường V H, thành phố N Đ, tỉnh N Đ làm chủ. H đi vào bên trong gặp chị Trần Thị Trang N, sinh năm 1994 là nhân viên cửa hàng hỏi mua 01 dây chuyền vàng tây loại giành cho nam giới và được chị N đưa cho xem 02 chiếc dây chuyền vàng 18K. H tiếp tục đề nghị được xem thêm các mặt dây chuyền bằng vày tây thì chị N lấy 03 mặt dây chuyền bằng vàng 18K rồi đưa cho H xem. Sau đó, H bảo chị N tính tiền. Lợi dụng lúc chị N đang tính tiền không để ý, H lén lút cầm 01 mặt dây chuyền hình khiên, ở giữa có hình thanh kiếm nắm trong lòng bàn tay của mình. H đưa lại 02 mặt dây chuyền và 02 sợi dây chuyền còn lại cho chị N rồi lấy lý do không mua hàng nữa. H đi ra ngoài lấy xe mô tô điều khiển đi về thành phố HN. Trên đường về, H khai vào 01 cửa hàng vàng bạc không rõ địa chỉ bán chiếc mặt dây chuyền được 16.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 21/4/2022, chị Trần Thị Trang N là đại diện theo ủy quyền của bị hại đã trình báo Công an thành phố N Đ và giao nộp 01 đĩa CD bên trong có 03 đoạn video được trích xuất từ camera tại cửa hàng vàng Hà Thành ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản.

Cơ quan điều tra đã cho H xem các đoạn video đã thu giữ. Kết quả H xác định hình ảnh người phụ nữ điều khiển xe mô tô Honda Lead, mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang màu xanh, đi dép lê, quần tối màu vào cửa hàng vàng Hà Thành và trộm cắp mặt dây chuyền chính là H.

Ngày 01/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N Đ đã cho Lê Quỳnh H nhận dạng ảnh mặt chiếc dây chuyền. Kết quả H nhận đúng hình ảnh mặt dây chuyền đã trộm cắp tại cửa hàng vàng Hà Thành như đã khai.

Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 09/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N Đ kết luận: 01 mặt dây chuyền màu vàng hình kiếm, loại nam giới thường dùng, nhãn hiệu KOREA750, trọng lượng 6,408 chỉ, loại vàng 18K, có trị giá tại thời điểm ngày 06/4/2022 là 30.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 791/KL-KTHS ngày 10/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N Đ kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/6/2022, chị Lê Thị N L là em ruột H đã bồi thường 30.000.000 đồng. Chị N không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với H.

Về nguồn gốc chiếc xe mô tô BKS 29Z6 – 2406: Kết quả điều tra xác định chiếc xe trên là của Nguyễn Đình An, sinh năm 1982 ở phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố HN do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán lại cho người không quen biết. H khai mua chiếc xe này của một người đàn ông không quen biết vào khoảng tháng 11/2021 và sử dụng làm phương tiện đi lại.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên.

Cáo trạng số 129/KSĐT ngày 19/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG truy tố bị cáo Lê Quỳnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa là anh T và chị L khai: Anh T là chồng của bị cáo, chị L là em gái của bị cáo. Anh chị đã thay mặt bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại và đều không yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền đã bồi thường.

Bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ như nêu trên. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; không ai có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Lê Quỳnh H từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 08/4/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS 29Z6-2406.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số thuê bao 0912349173; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG số thuê bao 0943328211 và số tiền 1.008.000 đồng, nhưng tạm giữ lại số tiền 1.008.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác nữ màu hồng nhạt, có mũ liền áo; 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ lưỡi chai, màu trắng; 01 đôi dép lê màu đen, 01 chiếc áo chống nắng màu trắng có nhiều hình bông H màu đỏ.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố BG, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự có mặt của đương sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ và có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 12/12/2021 đến ngày 06/4/2022, Lê Quỳnh H dùng thủ đoạn đến các cửa hàng kinh doanh vàng trên địa bàn thành phố BG, tỉnh BG và thành phố N Đ, tỉnh N Đ vờ hỏi mua vàng sau đó lợi dụng sơ hở đã trộm cắp tài sản tổng giá trị là 56.500.000 đồng, cụ thể:

Ngày 12/12/2021, H trộm cắp tại cửa hàng vàng Kim Tài Phát của anh

Ngô Đ A ở đường Q T, phường T P, thành phố BG 01 chiếc nhẫn 5 chỉ, mặt vuông đính đá màu đỏ trị giá 26.500.000 đồng.

Ngày 06/4/2022, H trộm cắp tại cửa hàng vàng Hà Thành của chị Phạm Thị TH ở đường M T B, phường V H, thành phố N Đ, tỉnh N Đ 01 mặt dây chuyền vàng trị giá 30.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo chỉ vì mục đích cá nhân đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự an ninh tại địa phương, bị dư luận và quần chúng nhân dân lên án. Do vậy, cần phải xử nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử 01 lần về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và 02 lần về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, đã tác động người thân bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần đủ định lượng khởi tố nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Với tính chất hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên, xét thấy: Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, răn đe bị cáo tự cải tạo để sau này trở thành công dân có ích.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo thành người lương thiện.

Về vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS 29Z6-2406 là phương tiện bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số thuê bao 0912349173; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG số thuê bao 0943328211 và số tiền 1.008.000 đồng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ lại số tiền 1.008.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- 01 áo khoác nữ màu hồng nhạt, có mũ liền áo; 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ lưỡi chai, màu trắng; 01 đôi dép lê màu đen, 01 chiếc áo chống nắng màu trắng có nhiều hình bông H màu đỏ, là phương tiện và trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 12/12/2021, nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quỳnh H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 08/4/2022.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu sáng xe Lead, màu sơn đen, biển kiểm soát 29Z6-2406, số máy: 08A01057, số khung: 10181001376 đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số máy MKT72LL/A, số sê ri: C7JQV6VCGRY5 lắp sim số thuê bao 0912349173 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xám, số IMEI 355726/09/834505/2; số thuê bao 0943328211 đã qua sử dụng và số tiền 1.008.000 đồng; nhưng tạm giữ lại số tiền 1.008.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác nữ màu hồng nhạt, có mũ liền áo; 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ lưỡi chai, màu trắng; 01 đôi dép lê màu đen, 01 chiếc áo chống nắng màu trắng có nhiều hình bông H màu đỏ.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quỳnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án.

- Bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định.

5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ