- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh H (Tên gọi khác: N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2022/HS-ST Ngày: 20/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh S.
2/ Ông Đặng Văn M.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng H – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức xét xử trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 112/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
LÊ THANH H (Tên gọi khác: N) - Sinh năm: 2000.
Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: thôn 4, xã H, huyện H, tỉnh B.
Giới tính: N.
Dân tộc: Kinh;
Quốc tịch: Việt N;
Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm nông.
Trình độ học vấn: 6/12.
Cha: Lê Thanh H.
Mẹ: Nguyễn Thị L.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Vợ: Lê Thị Minh T.
Tiền sự: không.
Tiền án:
- Ngày 29/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2019. Chưa được xóa án tích.
- Ngày 05/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 10/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2021. Chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
Ngày 19/3/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 06 tháng, về hành vi trộm cắp tài sản;
Ngày 26/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 03/10/2018;
Ngày 12/11/2018 bị Công an huyện Hàm Thuận Bắc ra quyết định xử phạt hành chính, về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng.
Ngày 10/6/2022, Lê Thanh H đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart star 5, màu đen trị giá 1.875.000 đồng của Lê Văn H1, sinh năm 1973, ở thôn P, xã H, huyện H. Đến ngày 01/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 125/2022/HS-ST, đến nay chưa có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Bắc từ ngày 23/9/2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Ông Nguyễn Thành N - Sinh năm 1990. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, Xã H, huyện H, tỉnh B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lê Thị Minh T - Sinh năm 2001. (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố 9, phường P, thành phố P, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thanh H (N), sinh năm 2000, trú tại thôn 4, xã H, huyện H, tỉnh B là đối tượng đang có tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù về lại địa phương ngày 10/8/2021. Trong thời gian chưa được xóa án tích, Lê Thanh H lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể như sau:
Khoảng 11 giờ, ngày 25/7/2022, Lê Thanh H (N), điều khiển xe mô tô, biển số 86B2-047.17, hiệu Exciter (xe do H làm chủ sở hữu) chở vợ là bà Lê Thị Minh T, sinh năm 2001, ở phường P, thành phố P, tỉnh B đi từ nhà T đến khu vực xã Hồng Liêm, huyện H để tìm nhà bạn tù của H có tên “Bi Gi” để chơi. Trên đường đi, H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người dân để bán lấy tiền tiêu xài với thủ đoạn vào nhà người dân hỏi đường, nếu thấy nhà nào có sơ hở thì sẽ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (T không biết mục đích của H). Khoảng 13 giờ 10 phút khi đến nhà ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã H, huyện H, H dừng xe trước cổng và nói với T “thôi em đứng đây để anh vô hỏi nhà”, T tưởng thật đứng ngoài đường giữ xe, H đi vào nhà thì thấy có người đàn ông lớn tuổi nằm ngủ trên võng ở sau nhà, quan sát xung quanh phát hiện thấy trên bàn gỗ tại nhà sau có để 01 điện thoại đi động, nhãn hiệu VIVO Y30, màu xanh dương, H lén lút đi đến lấy trộm điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi đi ra chỗ T đang đứng đợi (T không biết việc H vào nhà lấy trộm điện thoại) và điểu khiển xe mô tô chở T bỏ đi. Sau khi phát hiện bị mất điện thoại, ông N đến trình báo Công an xã Hồng Liêm biết và mô tả đặc điểm của đối tượng khả nghi là một đôi N nữ đi xe mô tô loại Exciter người nữ mặc áo dài tay màu vàng, người N mặc áo dài tay màu đen. Công an xã H phối hợp với Công an xã H tuần tra và phát hiện H và T đang ăn mì gõ ở thôn 4, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc có đặc điểm giống như mô tả của ông N nên đã mời H và T về trụ sở Công an để làm việc. Tại đây, H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình, và giao nộp lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y30, màu xanh dương mà H vừa lấy trộm được cho Công an xã H. Ngoài ra Công an xã đã tạm giữ của Lê Thanh H 01 xe mô tô biển số 86B2 – 047.17 loại Exciter màu xanh dương, mặt nạ màu đen.
Ngoài lần phạm tội trên, ngày 10/6/2022, Lê Thanh H còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart star 5, màu đen trị giá 1.875.000 đồng của Lê Văn H1, sinh năm 1973, ở thôn P, xã H, huyện H. Vụ án đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 19/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Bắc kết luận:
- 01 điện thoại di động:
+ Nhãn hiệu VIVO Y30, màu xanh dương, mua vào năm 2020.
+ Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 4.790.000 đ/cái.
+ Giá trị sử dụng còn lại là 70%.
Thành tiền: 4.790.000đ x 70% = 3.353.000đ.
Tổng giá trị định giá tài sản là: 3.353.000đ (Ba triệu, ba trăm năm mươi ba ngàn đồng).
Vật chứng vụ án thu giữ và x lý:
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y30, màu xanh dương. Sau khi tạm giữ và xác minh làm rõ Cơ quan CSĐT điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Thành N là chủ sở hữu.
- 01 (một) xe mô tô, biển số 86B2-047.17, màu xanh dương mặt nạ màu đen do Lê Thanh H làm chủ sở hữu (màu gốc của xe là màu đỏ đen, sau khi mua lại ông Nguyễn Tấn Phùng chủ tiệm xe Honda Phùng đã thay đổi màu áo xe), nhãn hiệu Exciter là vật chứng của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã ra quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện H sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bảo quản chờ xử lý.
Về dân sự: Ông Nguyễn Thành N sau khi nhận lại tài sản thì không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 121/CT/VKSHTB ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: bị cáo Lê Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phạt Lê Thanh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ 01 (một) xe mô tô, biển số 86B2-047.17, màu xanh dương, mặt nạ màu đen, nhãn hiệu Exciter (màu gốc là màu đỏ đen).
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc mình đã làm, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh H khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, biên bản xác định hiện trường, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 25/7/2022, lợi dụng sự sơ hở của người dân, Lê Thanh H đã lén lút đột nhập vào nhà ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1990, ở Thôn L, Xã H, huyện H, tỉnh B lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y30, màu xanh dương là tài sản của ông Nguyễn Thành N đang để trên bàn gỗ ở gian nhà sau. Trị giá điện thoại bị lấy trộm qua định giá là 3.353.000đ (Ba triệu ba trăm năm mươi ba ngàn đồng).
Lê Thanh H đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết tái phạm, trong thời gian chưa được xoá án tích lại tiếp tục trộm cắp tài sản của người khác trị giá 3.353.000 đồng là “tái phạm nguy hiểm”. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội danh và điều luật điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thừa hiểu biết rằng trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên xuất phát từ bản chất tham lam, lười lao động, thích hưởng thụ nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không pH bỏ công sức lao động nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo lén lút đột nhập vào nhà người khác chiếm đoạt tài sản trị giá 3.353.000đ. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bất bình, mất an ninh trật tự tại địa phương là nguy hiểm cho xã hội, tạo tâm lý H1g mang trong nhân dân về việc giữ gìn tài sản nên cần thiết pH xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc.
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, có ông ngoại là Nguyễn Văn T và bà ngoại là Lê Thị D được Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt N tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng, người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có 02 tiền án, có nhân thân xấu: từng bị xử phạt vi phạm hành chính lẫn xử phạt hình sự đều về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo, tu chí làm ăn mà tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật, kỷ cương xã hội của bị cáo. Do đó, khi lượng hình, cần thiết pH lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y30, màu xanh dương. Sau khi tạm giữ và xác minh làm rõ Cơ quan CSĐT điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Thành N là đúng quy định.
- 01 (một) xe mô tô, biển số 86B2-047.17, màu xanh dương, mặt nạ màu đen, nhãn hiệu Exciter (màu gốc của xe là màu đỏ đen, sau khi mua lại ông Nguyễn Tấn Phùng chủ tiệm xe Honda Phùng đã thay đổi màu áo xe) là phương tiện bị cáo dùng để đi trộm cắp. Hội đồng xét xử xét thấy: xe mô tô trên có nguồn gốc do Lê Thị Minh T mua lại vào ngày 18/7/2022 từ tiệm xe của ông Nguyễn Tấn Phùng, xe vẫn còn đứng tên chủ sở hữu cũ là Bùi Văn Minh, sinh năm 1998, địa chỉ: thôn Phú Sung, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận N, tỉnh Bình Thuận. Sau khi mua xe trên, Lê Thị Minh T đã cho Lê Thanh H toàn quyền quản lý, sử dụng. Tại các biên bản ghi lời khai lưu tại hồ sơ và tại phiên tòa, Lê Thị Minh T đều xác nhận xe mô tô trên T đã cho Lê Thanh H ngay sau khi mua xe, đây là tài sản của Lê Thanh H và H được toàn quyền quản lý, sử dụng chiếc xe trên. Đến ngày 25/7/2022, Lê Thanh H sử dụng phương tiện trên vào việc phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung quỹ đối với chiếc xe trên.
[8] Về dân sự: Ông Nguyễn Thành N sau khi nhận lại tài sản thì không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Tòa không xem xét giải quyết.
[9] Về các vấn đề khác:
Đối với Lê Thị Minh T là người đi cùng H khi H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên nhưng T không bàn bạc cùng H đi trộm cắp tài sản, T không biết việc H đi vào nhà dân hỏi thăm đường rồi trộm cắp điện thoại. Mặt khác, T cũng không giúp sức hay tạo điều kiện gì để H thực hiện hành vi phạm tội trên nên không đồng phạm với H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điều 173 BLHS.
Bị cáo Lê Thanh H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh H (Tên gọi khác: N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
X phạt: Lê Thanh H (Tên gọi khác: N) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2022.
Về x lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ 01 (một) xe mô tô, biển số 86B2-047.17, màu xanh dương, mặt nạ màu đen, nhãn hiệu Exciter (màu gốc là màu đỏ đen).
Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2022.
Về án phí: Bị cáo Lê Thanh H pH chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/12/2022). Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh B; - VKSND tỉnh B; - Sở tư pháp; -VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện H; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Văn Minh Nguyễn Thanh Sơn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Thanh H THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Huyền |