- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2022, của Tòa án nhân dân huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2022/HS-PT Ngày 03-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên.
Các Thẩm phán:
Ông Hà Chí Quốc;
Ông Phạm Văn Tâm .
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công H - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 113/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo Nguyễn Văn L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2022, của Tòa án nhân dân huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh ngày 18/7/1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: tổ 11, ấp Th, xã Thạnh T, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị U; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: có 02 tiền án tại Bản án số 133/2014/HSPT ngày 26/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn L 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt chính ngày 07/8/2016, chưa chấp hành nộp án phí và truy thu, chưa được xóa án tích; tại Bản án số 56/2018/HSST ngày 03/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn L 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt chính ngày 19/10/2020, chưa chấp hành xong việc bồi thường, chưa được xóa án tích;
Tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 22/6/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Văn L 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án; ngày 22/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Văn L 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong bản án ngày 19/12/2013 cả hai bản án này bị cáo bị kết án về tội ít nghiêm trọng và lúc bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không coi là án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2021, chuyển tạm giam từ ngày 28/12/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 18/12/2021, Vũ Văn H và Nguyễn Văn L bàn bạc, phân công vai trò cùng nhau đi tìm xe mô tô của ai để sơ hở lấy trộm bán kiếm tiền chia nhau tiêu xài và H sẽ đi bán xe khi trộm được. Cả hai đã thực hiện 02 vụ trộm xe mô tô trên địa bàn huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:
Vụ thứ nhất: khoảng 19 giờ ngày 23/12/2021, Vũ Văn H mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại VARIO, biển số 70H1-518.85 của ông Vũ Văn Hùng, sinh năm 1968, ngụ ấp Th, xã Thạnh T, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh để đi công việc. Sau khi có xe H chở Nguyễn Văn L đi tìm xe mô tô ai để sơ hở để lấy trộm. Khi đi ngang qua nhà anh Phạm Văn T, sinh năm 1980, ngụ ấp Thạnh Trung, xã Thạnh T, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, biển số 70H1-230.63 của anh T đang dựng trước cửa nhà, không có người trông coi, có gắn sẳn chìa khóa trên xe. L đứng ngoài cảnh giới, H lén lút đi vào trong đẩy xe mô tô ra ngoài đường nổ máy điều khiển xe đến khu vực giáp ranh giữa ấp Bàu Bền, xã Thạnh Bắc, huyện Tân B và ấp Hội Thanh, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để bán xe cho người tên “Hiếu”, không rõ nhân thân, lai lịch với số tiền 6.000.000 đồng. L điều khiển xe để chở H về, L được chia 3.000.000 đồng, số tiền bán xe có được cả hai đã tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: khoảng 10 giờ ngày 25/12/2021, H tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 70H1-518.85 chở L đi tìm xe để lấy trộm. Khi đi ngang qua nhà anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974, ngụ ấp Thạnh Trung, xã Thạnh T, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh thì nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, biển số 70H1-406.19 để trước cửa nhà, không có người trông coi, chìa khóa gắn sẳn trên xe. H đứng ngoài đường cảnh giới, L lén lút đi vào trong đẩy xe ra ngoài đường nổ máy điều khiển xe về hướng xã Tân Lập, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp Th, xã Thạnh T, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh thì L dừng xe lại kiểm tra phát hiện trong cốp xe có 01 cái ví màu đen, trong ví có giấy chứng nhận đăng ký của xe mô tô biển số 70H1-518.85, căn cước công dân của anh C và số tiền 670.000 đồng nên lấy tiền cất vào trong túi quần và giữ cái vì cùng giấy tờ để mang đi tiêu hủy và giao xe cho H điều khiển đi tiêu thụ. Khi điều khiển xe đến cầu Suối Mây, thuộc ấp Suối Mây, xã Thạnh Bắc, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh thì L đã ném ví và giấy tờ của anh C xuống dòng suối nước đang chảy. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày khi cả hai đang điều khiển xe đi tiêu thụ đến khu vực ấp Thạnh Phước, xã Thạnh Bình, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an xã Thạnh Bình bắt quả tang cùng tang vật.
Ngoài ra, Nguyễn Văn L và Vũ Văn H còn khai vào khoảng 20 giờ ngày 18/12/2021, L và H đi đến nhà trọ Như Ý thuộc ấp Thạnh Trung, xã Thạnh T, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh để lấy trộm xe mô tô. H đứng ngoài đường cảnh giới, L đi vào trong khu vực nhà trọ nhưng còn cách xe mô tô khoảng 15 mét thì anh Nguyễn Quốc Th, sinh năm 1997 là con chủ nhà trọ thấy L và hỏi L đi đâu thì L nói đi tìm bạn nhưng đi lộn nhà và L đi ra đường cho H chở đi. Qua xác minh không xác định được chủ sở hữu xe mô tô nêu trên nên không đủ cơ sở xử lý.
Quá trình điều tra Vũ Văn H, Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Kết quả định giá tài sản:
- Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 06/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh kết luận:
+ Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu đen đỏ, biển số 70H1-230.63, số máy JC54E3041398, số khung 5383EZ027125, có giá trị 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng.
+ Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, Wave anpha, màu trắng – đen –bạc, biển số 70H1-406.19, số máy JA39E-0880495, số khung RLHJA3917KY024492, có giá trị 14.320.000 (mười bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn) đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô Wave anpha, biển số 70H1-406.19, số máy JA39E-0880495, số khung RLHJA3917KY024492 của anh Nguyễn Văn C;
- 01 xe mô tô VARIO, màu vàng, cam, trắng, biển số 70H1-518.85, số khung: MH1JM5118MK762042, số máy JM51E-1761301 của ông Vũ Văn Hùng;
- 01 điện thoại di động Nokia, màu xanh, đen, số Imel: 353690/05/569713/1 của Vũ Văn H;
- 01 điện thoại di động Mobell, màu đen, số Imel: 830011600883683, sim số 0971799313 và sim số 0377077846 của Nguyễn Văn L;
- Tiền Việt Nam 2.170.000 (hai triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng, trong đó của Vũ Văn H là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng, của Nguyễn Văn Cảnh 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng;
Ngày 07/01/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân B ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 39/QĐ-ĐCSHS trả lại cho anh Nguyễn Văn C 01 xe mô tô Wave anpha, biển số 70H1-406.19, số máy JA39E-0880495, số khung RLHJA3917KY024492 và tiền Việt Nam 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng;
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2022, của Tòa án nhân dân huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ điểm a, g khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 25/12/2021.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10 tháng 4 năm 2022, bị cáo Võ Quốc Duy có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến Kiểm sát viên: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.Lời nói sau cùng của bị cáo: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo L xin giảm nhẹ hình phạt: bị cáo có nhiều tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm; nhân thân xấu. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: thành khẩn khai báo, tự thú ra những lần phạm tội trước đó, đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại, bị hại cũng có đơn bãi nại xin giảm nhẹ cho các bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt 05 năm tù là phù hợp, không nặng. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh, nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo L phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2022, của Tòa án nhân dân huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ điểm a, g khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Toà án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 25/12/2021.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1TANDTC; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND huyện Tân B; - Công an huyện Tân B; - Chi cục THADS huyện Tân B; - Phòng lý lịch STP. TTN; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị An Tiên |