- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy T - Dâm ô với người dưới 16 tuổi - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 146 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 130/2022/HS-PT Ngày: 18/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAV IỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có : Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Thái; Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2022/TLPT-HS, ngày 05 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo Nguyễn Duy T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 74/2022/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Z. - Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Duy T, sinh năm 1961; Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố X, thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán tạp hóa; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn N (chết) và bà Trần Thị T (chết); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ: Trần Thị S, sinh năm 1965; Con: Nguyễn Trần N, sinh năm 1994. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa. Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Duy T, sinh năm 1961, ở thôn X (nay là khu phố X), thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bình Thuận làm nghề buôn bán tạp hóa tại nhà, Nguyễn Duy T đã nhiều lần dùng tay bóp vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Nguyễn Thị Xuân A và cháu Lê Huỳnh Gia B ở thôn X (nay là khu phố X), thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bình Thuận khi các cháu đến tiệm tạp hóa mua đồ. Cụ thể: Vào một ngày, tháng không nhớ rõ trong năm 2020, cháu Nguyễn Thị Xuân A, sinh ngày 28/8/2009 đến tiệm tạp hóa của ông T để mua đồ ăn thì bị ông T dùng tay bóp 01 cái vào bên ngoài quần tại vị trí bộ phận sinh dục nữ của cháu A, cháu A né tránh nên không trúng. Vào khoảng 17 giờ một ngày không nhớ rõ trong tháng 05/2021, cháu Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 11/9/2010 ở cùng thôn (nay là khu phố) đến tiệm tạp hóa của ông T để mua rượu, trong lúc cháu B đứng chờ ông T bán rượu thì ông T dùng tay phải bóp 01 cái vào bên ngoài quần tại vị trí bộ phận sinh dục nữ của cháu B, cháu B né được nên không trúng. Sau đó ông T đưa rượu cho cháu B mang về nhà. Đến khoảng 17 giờ một ngày không nhớ rõ trong tháng 06/2021, cháu B đến tiệm tạp hóa của ông T để mua xúc xích, trong lúc cháu B đứng chờ ông T bán xúc xích thì ông T dùng tay phải bóp trúng 01 cái vào bên ngoài quần tại vị trí bộ phận sinh dục nữ của cháu B. Sau đó ông T đưa xúc xích cho cháu B mang về nhà. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 08/8/2021, cháu Lê Huỳnh Gia B và cháu Nguyễn Thị Xuân A đến chơi ở nhà cháu La Thị Xuân C, sinh năm 2011 ở thôn X (nay là khu phố X), thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bình Thuận, nhà cháu C gần nhà ông T. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, cháu B đi bộ đến tiệm tạp hóa ông T để mua bánh tráng trộn, lúc này tại nhà ông T chỉ có một mình ông T đang đứng tại tủ để bánh kẹo cách cửa chính nhà khoảng 50cm, cách cháu B 70cm, cháu B nói với ông T bán cho cháu B 01 bịch bánh tráng trộn với giá 2.000 đồng và đưa cho ông T 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Ông T lấy bịch bánh tráng trộn cầm trên tay trái đưa cho cháu B, cháu B đưa tay lấy bịch bánh tráng trộn thì ông T dùng tay phải bóp 01 cái trúng vào bên ngoài quần tại vị trí bộ phận sinh dục nữ của cháu B, ông T tiếp tục bóp 01 cái vào bên ngoài quần tại vị trí bộ phận sinh dục nữ của cháu B, cháu B lùi lại nên không trúng. Sau đó, ông T thối lại cho cháu B tiền thừa là 8.000 đồng, trong lúc ông T đưa tiền thối còn lại cho cháu B thì làm rớt 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, ông T dùng tay
trái nhặt lấy tờ tiền 2.000 đồng lên rồi quay tờ tiền 2.000 đồng trước mặt cháu B, ông T nói với cháu B: “cho dượng Tư bóp “chim” 01 cái, dượng Tư cho 5.000 đồng”, cháu B không nói gì rồi cầm lấy tờ tiền 2.000 đồng trên tay ông T đi ra khỏi nhà ông T. Thấy cháu B bỏ đi và sợ cháu B về nói lại cho gia đình nên ông T nói với cháu B: “dượng Tư giỡn đó nhen, đừng về méc mẹ, mẹ lên chửi um sùm”. Cháu B bỏ đi đến nhà cháu C và nói cho cháu C và cháu A biết sự việc ông T bóp bộ phận sinh dục nữ của cháu B. Khoảng 05 phút sau thì cháu A một mình đi đến nhà ông T để mua rau câu, lúc này tại nhà ông T chỉ có một mình ông T đang đứng tại tủ để bánh kẹo, cháu A nói với ông T: “dượng Tư bán cho con 5.000 đồng rau câu” và cháu A đưa số tiền 5.000 đồng cho ông T, ông T lấy 05 hủ rau câu (loại nhỏ) đưa cho cháu A, cháu A lấy 02 tay để lấy rau câu bỏ vào 02 túi quần thì ông T dùng tay phải bóp 01 cái vào bên ngoài quần tại vị trí bộ phận sinh dục nữ của cháu A, cháu A thụt lùi lại né tránh nên ông T bóp không trúng. Lúc này ông T nói với cháu A: “cho dượng Tư bóp “chim” 01 cái, dượng Tư cho 5.000 đồng”, cháu A nói “không”, ông T nói với cháu A: “dượng Tư giỡn đó nhen, về đừng méc mẹ, mẹ lên chửi dượng Tư đó”, cháu A bỏ đi về nhà của cháu C. Cháu A kể lại cho cháu B và cháu C biết việc cháu A bị ông T bóp không trúng bộ phận sinh dục nữ của cháu A thì ông La Xuân H, sinh năm 1965 (ông nội của cháu C) đang nằm trên võng gần đó nghe thấy, ông H hỏi cháu B và cháu A thì cháu B và cháu A kể lại sự việc cháu B và cháu A bị ông T bóp “chim” cho ông H nghe. Ông H bảo cháu B và cháu A đi về nói cho gia đình biết. Cháu B và cháu A đi về nhà nói cho gia đình biết sự việc, gia đình cháu B và cháu A làm đơn tố cáo ông T đến Công an thị trấn Y. Công an thị trấn Y mời ông T làm việc, lập biên bản xác định hiện trường vụ việc xảy ra tại tiệm tạp hóa nhà ông Nguyễn Duy T, ông T chỉ lại vị trí ông T đứng thực hiện hành vi dùng tay bóp vào bộ phận sinh dục nữ đối với cháu Lê Huỳnh Gia B. Đặt số 01: Vị trí ông Nguyễn Duy T dùng tay phải thực hiện hành vi bóp vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Lê Huỳnh Gia B vào ngày 08/8/2021; một ngày trong tháng 05/2021 và tháng 06/2021. Ngoài ra ông T còn xác định tại vị trí số 01 trên, ông T cũng dùng tay phải thực hiện hành vi bóp vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Nguyễn Thị Xuân A vào ngày 08/8/2021 và một ngày trong năm 2019 không trúng do cháu A né tránh được (theo lời trình bày của ông T). Đồng thời, cháu B và cháu A đều xác định tại vị trí số 01 theo ông T chỉ đúng là vị trí ông T đứng dùng tay phải thực hiện hành vi bóp vào bộ phận sinh dục nữ của cháu B (bóp trúng) và cháu A (bóp không trúng). Biết không thể chối cải nên ông T đã khai nhận toàn bộ hành vi thực hiện với cháu B và cháu A như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Duy T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra tống đạt Bản kết luận điều tra cho bị cáo, bị cáo T đồng ý với nội dung bản kết luận. Sau khi, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Duy T, về tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, Viện kiểm sát phúc cung, bị cáo Nguyễn Duy T không thừa nhận hành vi dùng tay bóp trúng vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Lê Huỳnh Gia B như lời thừa nhận trước đó của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Bị cáo Nguyễn Duy T cho rằng cháu Lê Huỳnh Gia B và gia đình cháu B tố cáo bị cáo T có hành vi dùng tay bóp trúng vào bộ phận sinh dục nữ của cháu B là vu khống nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bị cáo. Bị cáo Nguyễn Duy T khai nại ra vào ngày 08/8/2021, bị cáo T cùng với 03 người bạn tên: Nguyễn Bản, sinh năm 1964 ở thôn Suối Nhuôm, xã Sông Lũy, huyện Z; Nguyễn Hữu Thông, sinh năm 1962 ở thôn Bình Sơn, xã Bình T, huyện Z và Hoàng Hồng Phong, sinh năm 1963 ở thôn T Hòa, xã Sông Bình, huyện Z tổ chức nhậu tại nhà bị cáo và làm chứng cho bị cáo. Viện kiểm sát đã tiến hành lấy lời khai ông Nguyễn Bản, Nguyễn Hữu Thông, Hoàng Hồng Phong làm rõ, vào ngày 08/8/2021 ông Bản, ông Thông, ông Phong có đến nhà bị cáo T chơi và tổ chức nhậu, đến hơn 12 giờ cùng ngày thì ông Bản, ông Thông và ông Phong không nhậu nữa và ra về, trong thời gian ông Bản, ông Thông và ông Phong nhậu tại nhà bị cáo T thì không có các cháu nhỏ đến mua đồ tạp hóa. Sự việc xảy ra sau hơn 12 giờ ngày 08/8/2021 thì ông Bản, ông Thông và ông Phong không chứng kiến. Mặc dù bị cáo Nguyễn Duy T không thừa nhận có hành vi dùng tay bóp trúng vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Lê Huỳnh Gia B 02 lần (01 lần vào một ngày không nhớ rõ trong tháng 6/2021 và 01 lần vào ngày 08/8/2021) nhưng qua các tài liệu chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập như: Bản tự khai của bị cáo ngày 09/8/2021; Bản cam đoan ngày 09/8/2021; Biên bản ghi lời khai ngày 16/9/2021 có đại diện Viện kiểm sát tham dự (được ghi âm, ghi hình), bị cáo T đã thừa nhận hành vi dùng tay bóp trúng 02 lần vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Lê Huỳnh Gia B (01 lần vào một ngày không nhớ rõ trong tháng 6/2021 và 01 lần vào ngày 08/8/2021) tại tiệm tạp hóa của bị cáo. Đồng thời bị cáo T thừa nhận có lời nói: “dượng Tư giỡn đó nhen, về đừng méc mẹ, mẹ lên chửi dượng Tư đó” thể hiện sự việc là có thật nhưng bị cáo T chỉ cho rằng hành vi trên của bị cáo T là đùa giỡn. Lời khai nhận của bị cáo T phù hợp với lời khai của cháu Lê Huỳnh Gia B, lời khai của nhân chứng, người liên quan và kết quả xác định hiện trường được lập ngày 09/8/2021, chính bị cáo T chỉ vị trí nơi bị cáo đứng
thực hiện hành vi dùng tay bóp trúng vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Lê Huỳnh Gia B và cháu Nguyễn Thị Xuân A (bóp không trúng). Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến ngày 08/8/2021, bị cáo T đã 02 lần thực hiện hành vi dùng tay bóp trúng vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Lê Huỳnh Gia B. Về vật chứng của vụ án: tạm giữ 01 quần dài màu xám, vải thun, có họa tiết màu đen, 01 áo thun ngắn tay nữ màu xanh lục của cháu Lê Huỳnh Gia B mặc vào ngày 08/8/2021 do Huỳnh Thị Thúy K (mẹ của cháu B) giao nộp. Về phần dân sự: Người bị hại Lê Huỳnh Gia B và người đại diện theo pháp luật Lê Ngọc H và Huỳnh Thị Thúy K không yêu cầu Nguyễn Duy T bồi thường, vì vậy không xem xét xử lý. Tại phiên tòa sơ thẩm, sau nhiều lần quanh co chối tội thì bị cáo Nguyễn Duy T đã thừa nhận hành vi dùng tay bóp trúng 02 lần vào bộ phận sinh dục nữ của cháu Lê Huỳnh Gia B (01 lần vào một ngày không nhớ rõ trong tháng 6/2021 và 01 lần vào ngày 08/8/2021) tại tiệm tạp hóa của bị cáo. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 74/2022/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Z đã quyết định: Căn cứ: Điểm b, khoản 2 Điều 146; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý tang vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết. Ngày 28/6/2022, bị cáo Nguyễn Duy T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm: - Bị cáo T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo điểm b khoản 2
Điều 146 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là phù hợp và có căn cứ pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được thêm tài liệu thể hiện vợ bị cáo bị hẹp hở van 2 lá, hở van động mạch chủ, hở van 3 lá, tăng áp phổi, rung nhĩ; gia đình bị cáo chỉ có 02 vợ chồng già, không còn người thân nào khác. Tuy đây là tình tiết mới nhưng xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đã chiếu cố, khoan hồng. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo và khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo chăm sóc vợ đang bệnh tật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T được làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Duy T xác định hành vi phạm tội của mình giống như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ căn cứ kết luận: trong khoảng thời gian từ tháng 06/2021 đến tháng 8/2021, bị cáo T đã 02 lần thực hiện hành vi dùng tay bóp trúng vào bộ phận sinh dục của cháu Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 11/9/2010 khi cháu B dưới 16 tuổi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 146 của Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. [3] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo: Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo gồm: bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người có công với cách mạng, được đại diện gia đình bị hại bãi nại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bản thân của bị cáo có bệnh viêm dạ dày và tá tràng; bị cáo hiện đã trên 60 tuổi nên áp dụng điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt với mức án 24 tháng tù là đã xem xét đầy đủ, toàn diện. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ mới thể hiện vợ bị cáo bị hẹp hở van 2 lá, hở van động mạch chủ, hở van 3 lá, không lao động được; gia đình bị cáo chỉ có 02 vợ chồng già sống nương tựa lẫn nhau, bị cáo là lao động duy nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Đồng thời, xét thấy hành vi của bị cáo chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với cháu B, được gia đình cháu B thông cảm, bãi nại. Do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Về nội dung kháng cáo xin hưởng án treo: Xét thấy tội phạm mà bị cáo thực hiện phải được xử lý nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2022/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Z; Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 146, điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự; 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2/ Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Duy T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. 3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (18/11/2022).
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, THA huyện Z; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - UBND TT. Y – huyện Z; - Những người tham gia tố tụng ; - PV06 – Công an tỉnh Bình Thuận; - Tổ HCTP – TAND tỉnh Bình Thuận; Trần Phước Hiệu - Lưu: Hồ sơ, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) |