vanban.org

Bản án 130/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý…

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Ý N. Chị Trần Thị Ý N được ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84/2017 ngày 10/11/2017 của Ủy ban nhân dân xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-9-2022
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Bà Nguyễn Thị Minh Phượng

2/- Ông Phạm Thạch Út

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 354/2022/TLST–HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ý N, sinh năm: 1994 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số 115/2C tổ 3, ấp Suối Q, xã Cẩm Đ, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp Tân T, xã Vĩnh T, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 11/7/2022 nguyên đơn chị Trần Thị Ý N trình bày:

Về hôn nhân: Do quen biết chị và anh Nguyễn Văn L chung sống với nhau từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 10/11/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, không hợp nhau, tranh cãi, mâu thuẫn kéo dài không có hướng giải quyết nên vợ chồng ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: Chị và anh Linh có 01 con chung tên Nguyễn Bảo Thiên P sinh ngày 20/9/2017 hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn sơ thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ý N; chị Nhi được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Bảo Thiên P, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Ý N là nguyên đơn trong vụ kiện có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn L là bị đơn trong vụ kiện đã được triệu tập đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Trần Thị Ý N và anh Nguyễn Văn L.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ý N và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau vào năm 2017, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị N và anh L chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N trình bày là do không cùng quan điểm sống, không hợp nhau, tranh cãi, mâu thuẫn kéo dài không có hướng giải quyết nên vợ chồng ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Đối với anh Nguyễn Văn L qua 2 lần mời hòa giải tại tòa anh đều vắng mặt, cán bộ Tòa án có đến tận địa phương nhưng vẫn không ghi được lời khai do anh L vắng mặt. Xét thấy, thời gian ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay hai bên không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ tình cảm, khả năng hàn gắn là không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Chị Nhi và anh Linh có 01 con chung tên Nguyễn Bảo Thiên P sinh ngày 20/9/2017, hiện nay cháu P đang sống với chị N. Sau khi ly hôn chị N xin được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy từ khi ly thân đến nay cháu Thiên P sống với chị N cuộc sống đã ổn định. Do đó nghĩ nên để chị N được tiếp tục nuôi dưởng cháu Thiên Phúc là hoàn toàn phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Nhi không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Trần Thị Ý N phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Ý N.

Chị Trần Thị Ý N được ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84/2017 ngày 10/11/2017 của Ủy ban nhân dân xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai không còn giá trị pháp lý.

2.Về con chung: Chị Trần Thị Ý N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Bảo Thiên Phúc sinh ngày 20/9/2017. Anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền tới lui, thăm nom con chung cho anh Linh, không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Trần Thị Ý N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002634 ngày 12/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

4.Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Ý N và anh Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

5.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ