- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vầy Say C phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 130/2021/HS-ST Ngày: 19-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành và ông Phạm Thanh Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 552/TB-TAH ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Vầy Say C – sinh năm 1995, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Ấp x, xã T.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vầy Vĩnh V – sinh năm 1965 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1969; Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Ngọc T – sinh năm 1996; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 30/6/2021, bị Công an xã P.X, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Ngày 23/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện T.P, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 (Năm) năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”; Bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2021. (Có mặt)
- Bị hại: Ông Sầm Quốc S – sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp x, xã P.L, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1969 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp x, xã T.L, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Ông Tô Trọng N – sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp x, xã P.L, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vầy Say C là đối tượng nghiện ma túy, nên có ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng.
Buổi trưa ngày 10/8/2021, Vầy Say C tự ý lấy xe mô tô biển số 60N6-2632 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị N, điều khiển đi đến khu vực xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi C điều khiển xe đi ngang nhà ông Sầm Quốc S (thuộc Ấp x, xã P.L, huyện T.P) thì thấy vắng người nên dừng xe lại, quan sát thấy cửa nhà không có người trông coi nên mở cửa đi vào nhà. Khi đến phòng thờ, C thấy 01 máy cắt cỏ cầm tay để ở góc tường thì cầm lấy, tiếp đó C đến phòng ngủ thì tìm lấy được 01 máy khoan điện cầm tay. Sau đó, khi C lấy tài sản trộm cắp được đem ra khỏi nhà thì bị ông S phát hiện bắt quả tang cùng tang vật lúc 14 giờ cùng ngày.
Tại cơ quan điều tra, C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú xác định: 01 (Một) máy cắt cỏ cầm tay hiệu SP-330 Sharp màu đỏ đen đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 1.900.000 đồng; 01 (Một) máy khoan điện cầm tay hiệu Maktec MT817 màu cam đen đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.400.000 đồng.
Theo Cáo trạng số 119/CT-VKSTP-ĐN ngày 24/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Vầy Say C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vầy Say C mức án 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, ông Sầm Quốc S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét. Đối với xe mô tô biển số 60N6-2632 đã trao trả lại cho bà Nguyễn Thị N nên không đề nghị xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận định giá, biên bản xác minh hiện trường, Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Vào khoảng 13 giờ ngày 10/8/2021, tại Ấp x, xã P.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Vầy Say C đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông Sầm Quốc S là 01 (Một) máy cắt cỏ cầm tay hiệu SP-330 Sharp màu đỏ đen đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 1.900.000 đồng và 01 (Một) máy khoan điện cầm tay hiệu Maktec MT817 màu cam đen đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 500.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.400.000 đồng.
Hành vi của Vầy Say C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Ngoài ra còn xem xét tài sản đã được thu hồi trao trả cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tiền án, tiền sự, nhân thân:
Tiền sự: Ngày 30/6/2021, bị Công an xã P.X, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 23/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện T.P, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 (Năm) năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, còn trẻ nhưng do nghiện ma túy, vì muốn có ma túy để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân và có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để sử dụng và nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài, với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử năm 2013 về tội chiếm đoạt tài sản, sau khi chấp hành xong hình phạt thì ngày 30/6/2021 tiếp tục bị Công an xã Phú Xuân, huyện Tân Phú xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản; tuy nhiên lại không thay đổi, tu dưỡng bản thân mà đến ngày 10/8/2021 lại tiếp tục hành vi chiếm đoạt tài sản, thể hiện thái độ không ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Ông Sầm Quốc S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) xe mô tô biển số 60N6-2632 là tài sản của bà Nguyễn Thị N (là người quản lý, sử dụng hợp pháp) nhưng bà N không biết bị cáo lấy xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả xe cho bà N là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vấn đề khác: Đối với việc bị cáo khai đi cùng đối tượng tên “B” tìm tài sản trộm cắp, khi đến trước nhà bị hại thì “B” chỉ đứng ở ngoài trông coi, tuy nhiên không xác định được rõ nhân thân, lai lịch đối tượng tên “B” và chưa lấy được lời khai. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Vầy Say C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vầy Say C 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2021.
2. Về án phí: Bị cáo Vầy Say C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |