vanban.org

Bản án 130/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/08/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đỗ Thị D. Xử cho Chị Đỗ Thị D ly hôn anh Đặng Hoàng L.

Về quan hệ nuôi con chung: Giao cho Chị Đỗ Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đặng Hoàng Thảo V, sinh ngày 27/10/2017 đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị D tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Chị D có quyền khởi kiện yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị D - Đặng Hoàng L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đỗ Thị D. Xử cho Chị Đỗ Thị D ly hôn anh Đặng Hoàng L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 21/8/2021
V/v: “Ly hôn; tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Ông Nguyễn Việt Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2021/TLST-HNGĐ ngày 17/6/2021 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 125/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2021/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị D, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh Đặng Hoàng L, sinh năm 1990.

Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú hiện nay: Cộng hòa Séc.

3. Người làm chứng: Ông Đặng Duy T, địa chỉ: Thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt. (Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị Đỗ Thị D trình bày: Chị và anh Đặng Hoàng L được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 30 tháng 11 năm 2016 tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Sau khi chung sống với nhau được một thời gian khoảng 01 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến to tiếng, cãi nhau. Sau đó, anh L đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc từ năm 2017 đến nay. Từ khi anh L đi nước ngoài, vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau nữa, không ai quan tâm đến nhau và ly thân từ đó đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn mặc dù nhiều lần được bạn bè và gia đình động viên, hòa giải. Chị D xác định mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Hoàng L.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị D, anh L có 01 con chung là cháu Đặng Hoàng Thảo V, sinh ngày 27/10/2017. Hiện nay, cháu V đang do chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D đề nghị Tòa án giao cho chị nuôi con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình: Chị D không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Đặng Duy T là bố đẻ của anh Đặng Hoàng L. Tại các biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2021 và 05/7/2021, ông T trình bày: Anh L và chị D được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 30 tháng 11 năm 2016 tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Hiện nay, anh L đang học tập và lao động tại Cộng hòa Séc. Anh L đã được ông thông báo các nội dung văn bản tố tụng của Tòa án gửi. Sau khi được ông thông báo, anh L thông tin lại và xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh L nhất trí đồng ý ly hôn chị D. Do anh L không cung cấp địa chỉ cụ thể ở Cộng hòa Séc và bản thân ông cũng không nắm được nên ông không thể cung cấp cho Tòa án.

Theo thông tin do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp tại Công văn số 15432/QLXNC-P5 ngày 12/7/2021 thể hiện: Anh Đặng Hoàng L, sinh ngày 22/12/1990 tại Hải Dương, CMND số: xxxxxxxxx, địa chỉ thường trú tại: huyện G, tỉnh Hải Dương; đã sử dụng hộ chiếu số xxxxxxxx do Cục quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 16/6/2010 để xuất nhập cảnh lần gần nhất ngày 08/11/2019 qua cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt).

Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn cơ bản đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị D và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị D được ly hôn anh L; về con chung, giao cháu Đặng Hoàng Thảo V, sinh ngày 27/10/2017 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự thỏa thuận về cấp dưỡng tiền nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Đỗ Thị D có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hải Dương, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đặng Hoàng L, là người Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Séc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 464 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa, chị D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt lần thứ hai, căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định. Tòa án xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh L được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 30 tháng 11 năm 2016 tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Sau đó, anh L đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc từ năm 2017 đến nay. Từ khi anh L đi nước ngoài, vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau. Mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị D, anh L cũng được gia đình anh L và chính quyền địa phương xác nhận. HĐXX xét thấy, hôn nhân của chị D và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mỗi người ở một nước khác nhau, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị D ly hôn với anh L là phù hợp quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ nuôi con chung: Vợ chồng chị D và anh L có 01 con chung là cháu Đặng Hoàng Thảo V, sinh ngày 27/10/2017. Hiện nay, cháu V đang do chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha, mẹ. Bản thân chị D có chỗ ăn ở, có sức lao động nên đủ điều kiện nuôi con. Anh L đang đi lao động ở nước ngoài. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung nên việc giao con chung cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau này, anh L về Việt Nam sinh sống có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về việc thay đổi quyền nuôi con theo quy định. Do chị D tự nguyện tạm thời chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nên Tòa án không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con chung, sau này chị D có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ tài sản chung: Chị D và anh L không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 464 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đỗ Thị D. Xử cho Chị Đỗ Thị D ly hôn anh Đặng Hoàng L.

2. Về quan hệ nuôi con chung: Giao cho Chị Đỗ Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đặng Hoàng Thảo V, sinh ngày 27/10/2017 đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị D tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Chị D có quyền khởi kiện yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Anh Đặng Hoàng L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm dân sự (Hôn nhân và gia đình), đối trừ với 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, theo biên lai thu số AA/2018/0006358 ngày 17/6/2021. Chị D đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; anh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ