vanban.org

Bản án 130/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Cẩm M1 và anh Nguyễn Thanh L1.

Về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: 1. Giao cháu Nguyễn Văn M2, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2012 cho chị Huỳnh Thị Cẩm M1 được trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — ""Ly hôn và tranh chấp về nuôi con" giữa chị Huỳnh Thị Cẩm M1 và anh Nguyễn Thanh L1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Cẩm M1 và anh Nguyễn Thanh L1.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 9 – 2020
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hùng.

2. Ông Trần Văn Tám.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên toà.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 267/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 97/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Cẩm M1, sinh năm 1991; cư trú tại Ấp A, xã L2, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1990; cư trú tại Ấp C, xã L3, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 6 năm 2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Cẩm M1 trình bày:

- Về hôn nhân: Trên cơ sở quen biết, được sự đồng ý của gia đình, chị và anh Nguyễn Thanh L1 tổ chức lễ cưới vào năm 2010 và đăng ký kết hôn ngày 20/7/2012 tại Ủy ban nhân dân xã L3, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng gia đình chồng địa chỉ Ấp C, xã L3, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh L1 không chí thú làm ăn, thường xuyên tụ tập cùng bạn bè ăn nhậu. Mặc dù, chị và gia đình đã khuyên anh L1 nhiều lần nhưng không sửa đổi làm cho vợ chồng thường xuyên cự cải dẫn đến mất hạnh phúc. Nên chị mang con về nhà cha mẹ ruột của chị địa chỉ Ấp A, xã L2, huyện B, tỉnh Vĩnh Long sống ly thân với anh L1 từ tháng 01/2020 đến nay không trở về đoàn tụ. Sau thời gian sống ly thân, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn với anh L1.

- Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị và anh L1 có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Văn M2, sinh ngày 28/7/2012 hiện do chị nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M2 phù hợp với nguyện vọng của con, không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:

Anh Nguyễn Thanh L1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều v ng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị M1 và không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh L1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai v ng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Bình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thanh L1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần hai v ng mặt không có lý do vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử v ng mặt anh L1 theo thủ tục chung.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Cẩm M1 và anh Nguyễn Thanh L1 là vợ chồng hợp pháp, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét trong thời gian chung sống, xuất phát từ việc anh L1 không chí thú làm ăn, thường xuyên tụ tập cùng bạn bè ăn nhậu dẫn đến vợ chồng cự cải, mất hạnh phúc. Chị M1 và anh L1 có thời gian sống ly thân từ tháng 01/2020 đến nay không trở về đoàn tụ. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị M1 xác định chị không còn tình cảm vợ chồng, không muốn ý tiếp tục chung sống với anh L1. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L1 không có văn bản trình bày ý kiến hoặc đề nghị giải quyết đối với yêu cầu ly hôn của chị M1. Căn cứ vào lời trình bày của chị M1 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết luận đời sống chung giữa chị M1 và anh L1 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho ly hôn giữa chị M1 và anh L1.

Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị M1 và anh L1 có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Văn M2, sinh ngày 28/7/2012. Xét cháu M2 đã trên 08 tuổi, do chị M1 nuôi dưỡng từ tháng 01/2020 đến nay, nguyện vọng của cháu muốn tiếp tục sống cùng với chị M1. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L1 không có văn bản trình bày ý kiến hoặc đề nghị giải quyết đối với yêu cầu nuôi con chung của chị M1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết giao cháu M2 cho chị M1 được trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết ghi nhận ý kiến của chị M1 không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng cho con, anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Do không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án, Tòa án giải quyết chị M1 phải chịu án phí giải quyết ly hôn số tiền 300.000 đồng và được khấu trừ vào trong số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 và khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Cẩm M1 và anh Nguyễn Thanh L1.

2. Về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:

2.1. Giao cháu Nguyễn Văn M2, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2012 cho chị Huỳnh Thị Cẩm M1 được trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ghi nhận ý kiến của chị Huỳnh Thị Cẩm M1 không yêu cầu anh Nguyễn Thanh L1 phải cấp dưỡng cho con.

2.3. Anh Nguyễn Thanh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thị Cẩm M1 phải nộp án phí ly hôn số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ xong vào trong số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị M1 đã nộp theo biên lai thu số No 0010219 ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt chị Huỳnh Thị Cẩm M1, v ng mặt anh Nguyễn Thanh L1. Báo cho chị M1 có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng anh L1 v ng mặt thì thời hạn trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ