vanban.org

Bản án 130/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2018. Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2018/HS-ST
Ngày: 13-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc;

2. Ông Huỳnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Th k Tòa án nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n C Chi, Thành ph Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 114/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn K, sinh năm 1994 tại Tỉnh HT; nơi đăng k hộ khẩu th ờng trú và c trú: Xóm TN, xã TK, huy n TH, Tỉnh HT; nghề nghi p: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; vợ Nguyễn Thị H; con: 02 trẻ, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017; anh, chị, em ruột: 04 ng ời kể cả bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Ngô Văn C, sinh năm 1975 tại Tỉnh HT; nơi đăng k hộ khẩu th ờng trú và c trú: Thôn TH, xã KL, huy n KA, Tỉnh HT; nghề nghi p: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Ngô Viết V (đã chết) và bà Tr ơng Thị T (Đã chết); vợ Nguyễn Thị T; con: 02 trẻ, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1998; anh, chị, em ruột: 04 ng ời kể cả bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn H ng P, sinh năm 1990 tại Tỉnh HT; nơi đăng k hộ khẩu th ờng trú và c trú: Xóm 2, ST, xã KS, huy n KA, Tỉnh HT; nghề nghi p: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Kim Đ và bà Hoàng Thị T; bị cáo ch a có vợ con; anh, chị, em ruột: 05 ng ời kể cả bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9.

Địa chỉ: Số 20 đ ờng Hùng V ơng, ph ờng Lộc Thọ, Thành phố Nha Trang, Tỉnh Khánh Hòa.

Ng ời đại di n hợp pháp của bị hại theo ủy quyền: Ông Phạm Quang S, sinh năm 1985. (Xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Trọng C, sinh năm: 1990 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 3, xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Bị cáo Nguyễn Văn K (Sau đây gọi tắt là bị cáo K) làm công nhân tại công tr ờng của Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9 (Sau đây gọi tắt là Công ty VNECO9) – Khu Công nghi p Đông Nam thuộc ấp 3, xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh. Khi đi làm bị cáo K thấy cuộn dây cáp đi n có lõi bằng đ ng đặt tại công tr ờng nh ng không ai trông coi nên nảy sinh định lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo K rủ bị cáo Ngô Văn C (Gọi tắt là bị cáo C) là công nhân tại công tr ờng của Công ty VNECO9 nh ng đ ợc ngủ tại công tr ờng thực hi n vi c trộm tài sản nêu trên, bị cáo C đ ng . Sau đó, bị cáo C rủ thêm bị cáo Nguyễn H ng P (Gọi tắt là bị cáo P) cùng tham gia thực hi n vi c trộm tài sản nêu trên, bị cáo P đ ng . Bị cáo K về mua c a để chuẩn bị thực hi n hành vi trộm tài sản nh đã nêu trên.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/3/2018, bị cáo C ở tại công tr ờng của công ty VNECO9 đứng quan sát cảnh giới để bị cáo K và bị cáo P leo vào công tr ờng của công ty VNECO9. Bị cáo K và bị cáo P dùng c a sắt thay phiên nhau cắt 01 (Một) đoạn dây cáp đi n có lõi bằng đ ng dài khoảng 10m ném ra ngoài hàng rào, 02 bị cáo K và P leo ra ngoài và cắt ra từng đoạn nhỏ, mỗi đoạn khoảng 01m nhằm mục đích dễ tẩu tán và tiêu thụ. Sau đó, 02 bị cáo K và P bóc vỏ nhựa của dây cáp đi n lấy 40kg đ ng đem bán cho điểm thu mua ve chai do ông Nguyễn Vũ N tại ấp 2, xã Hòa Phú, huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh đ ợc số tiền 5.300.000đ (Năm tri u ba trăm ngàn đ ng) chia nhau tiêu xài, bị cáo K 1.500.000đ (Một tri u năm trăm ngàn đ ng), bị cáo P 1.500.000đ (Một tri u năm trăm ngàn đ ng), bị cáo C 1.000.000đ (Một tri u đ ng), số tiền còn lại các bị cáo tiêu xài chung. Ông N đã bán 40kg đ ng này cho ng ời khác (Không rõ lai lịch) nên tài sản không thu h i đ ợc.

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 19/3/2018, bị cáo K rủ thêm ng ời tên T (Ch a rỏ lai lịch) cùng thực hi n trộm cắp tài sản, ng ời tên T đ ng ý. Cũng nh lần tr ớc, bị cáo C ở tại công tr ờng của công ty VNECO9 đứng quan sát cảnh giới để 02 bị cáo K, P và ng ời tên T (Ch a rõ lai lịch) tiếp tục leo vào công tr ờng Công ty VNECO9 để trộm cắp dây cáp đi n có lõi bằng đ ng. Các bị cáo đã thực hi n cắt trộm khoảng 30m dây cáp đi n có lõi bằng đ ng, sau đó tách bóc vỏ nhựa và cắt thành từng đoạn khoảng 01m, bị cáo Khánh đem đến vựa ve chai của ông Hoàng Trọng C tại ấp 3, xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh bán đ ợc 104kg đ ng và 10kg võ bọc lõi đ ng đã bị cắt vụn, tổng số tiền bán đ ợc là 14.200.000đ (M ời bốn tri u hai trăm ngàn đ ng) chia nhau tiêu xài, bị cáo K 3.000.000đ (Ba tri u đ ng), bị cáo P 3.000.000đ (Ba tri u đ ng), ng ời tên T 3.000.000đ (Ba tri u đ ng), bị cáo C 1.000.000đ (Ba tri u đ ng), số tiền còn lại các bị cáo cho ng ời thân quen và tiêu xài chung. Sau khi bị phát hi n, ông C đã giao nộp 104kg đ ng và 10kg võ bọc lõi đ ng đã bị cắt vụn.

Ngày 22/3/2018, 03 bị cáo K, C, P đến Công an xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh đầu thú, thừa nhận hành vi trộm nh đã nêu trên.

Đối với ng ời tên T cùng với các bị cáo thực hi n vụ trộm ngày 19/3/2018 do ch a xác định đ ợc nhân thân, lai lịch nên ch a làm vi c đ ợc. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử l sau.

Đối với ông Nguyễn Vũ N, ông Hoàng Trọng C khi mua tài sản dây cáp đi n của các bị cáo, không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không áp dụng hình thức xử l .

Vật chứng vụ án: 01 (Một) con dao dài 52cm tay cầm bằng gỗ dài 21cm l ỡi dao màu đen bằng sắt dài 31cm chiều ngang 06cm, 01 (Một) đoạn dây cáp đ ng dài 1,40m bên ngoài có bọc nhựa màu đen lõi đ ng đ ờng kính 03cm, 22,65m dây đ ng đã bị bóc vỏ nặng 100kg, 10kg vỏ bọc bằng đ ng, nhôm đã bị cắt vụn, 01 (Một) máy cắt tay hi u Bosch.

Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 44/KL-HĐĐGTS ngày 27/3/2018 của Ủy ban nhân dân huy n Củ Chi kết luận: 40m dây cáp đi n trung thế, chủng loại Cu/XLPE/PVC/DATA/PVC 500sqmm trị giá là 39.042.800đ (Ba m ơi chín tri u không trăm bốn m ơi hai ngàn tám trăm đ ng).

Tại Bản cáo trạng số 93/CTr-VKS ngày 12 tháng 7 năm 2018, Vi n Kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, các bị cáo K, C, P thừa nhận hành vi phạm tội nh đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị hại Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9 xin vắng mặt, lời khai của ông Phạm Quang S đại di n của Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9 có tại h sơ thể hi n: Sợi dây cáp đi n có lõi bằng đ ng chiều dài 73m, Công ty VNECO9 đang thực hi n công trình TBA 110kv tại Khu Công nghi p Đông Nam – Củ Chi có giá trị 72.321.830đ (Bảy m ơi hai tri u ba trăm hai m ơi mốt ngàn tám trăm ba m ơi đ ng), các bị cáo đã cắt trộm 40m còn lại 33m, Công ty VNECO9 không sử dụng đ ợc cho công trình TBA 110kv, lẽ ra các bị cáo phải b i th ờng cho Công ty VNECO9 sợi dây cáp đi n có lõi bằng đ ng chiều dài 73m là 72.321.830đ (Bảy m ơi hai tri u ba trăm hai m ơi mốt ngàn tám trăm ba m ơi đ ng). Tuy nhiên, hi n nay 33m dây cáp đi n có lõi bằng đ ng còn lại, Công ty VNECO9 đang giữ. nhằm tạo điều ki n cho các bị cáo khắc phục hậu quả, Công ty VNECO9 sẽ nhận đoạn dây cáp 33m này với giá trị là 26.154.744đ (Hai m ơi sáu tri u một trăm năm m ơi bốn ngàn bảy trăm bốn m ơi bốn đ ng). Do đó, Công ty VNECO9 yêu cầu các bị cáo b i th ờng số tiền là 72.321.830đ - 26.154.744đ = 46.167.086đ + 4.616.708Đ (10% thuế VAT) = 50.783.794đ, làm tròn là 50.700.000đ (Năm m ơi tri u bảy trăm ngàn đ ng).

Tại phiên tòa, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Trọng C xin vắng mặt, lời khai của ông C có tại h sơ thể hi n: Ông C là ng ời mua các đoạn dây cáp đi n có lõi bằng đ ng của bị cáo K nh ng không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên ông C yêu cầu bị cáo K trả lại cho ông số tiền 15.300.000đ (M ời lăm tri u ba trăm ngàn đ ng) đã mua tài sản nêu trên.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đ ng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt:

Các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P, mỗi bị cáo mức án từ 18 (M ời tám) tháng đến 24 (Hai m ơi bốn) tháng tù.

Về xử l vật chứng vụ án và các yêu cầu của bị hại và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử l .

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Do hoàn cảnh khó khăn nên các bị cáo mới nảy sinh định trộm cắp tài sản, các bị cáo rất ăn năn, hối hận tr ớc hành vi của mình. Các bị cáo xin Hội đ ng xét xử xử phạt các bị cáo mức án nhẹ để sớm trở về làm lại cuộc đời và lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong h sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh; Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 17/3/2018, tại công tr ờng Công ty VNECO9 – Khu Công nghi p Đông Nam Củ Chi thuộc ấp 3, xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh, các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P có hành vi lén lút cắt trộm dây cáp đi n có lõi bằng đ ng, chiếm đoạt 10m dây cáp đi n có lõi bằng đ ng và lúc 21 giờ 00 phút ngày 19/3/2018 cũng tại công tr ờng Công ty VNECO9 – Khu Công nghi p Đông Nam Củ Chi thuộc ấp 3, xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh, các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P và một ng ời tên T (Ch a rõ lai lịch, đ ợc bị cáo K rủ rê cùng thực hi n trộm cắp tài sản) có hành vi lén lút cắt trộm dây cáp đi n có lõi bằng đ ng, chiếm đoạt 30m dây cáp đi n có lõi bằng đ ng, tổng cộng 02 lần trộm các bị cáo chiếm đoạt 40m dây cáp đi n trung thế, chủng loại Cu/XLPE/PVC/DATA/PVC 500sqmm, theo kết quả định giá tài sản tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 44/KL-HĐĐGTS ngày 27/3/2018 của Ủy ban nhân dân huy n Củ Chi kết luận trị giá tài sản là: 976.070đ/01m x 40m = 39.042.800đ (Ba m ơi chín tri u không trăm bốn m ơi hai ngàn tám trăm đ ng). Nh vậy, giá trị tài sản trộm ngày 17/3/2018 là 976.070đ/01m x 10m = 9.760.700đ (Chín tri u bảy trăm sáu m ơi ngàn bảy trăm đ ng), giá trị tài sản trộm ngày 19/3/2018 là 976.070đ/01m x 30m = 29.282.100đ (Hai m ơi chín tri u hai trăm tám m ơi hai ngàn một trăm đ ng). Hành vi của các bị cáo mỗi lần thực hi n nêu trên đã cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đ ợc quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hi n hành vi phạm tội, các bị cáo không có bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, không có sự thỏa thuận phân chia thu lợi bất chính, không có tính chất chuyên nghi p nên thuộc tr ờng hợp đ ng phạm giản đơn, không thuộc tr ờng hợp phạm tội có tổ chức, chuyên nghi p. Tuy nhiên, cần xem xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi và vai trò của các bị cáo trong vụ án khi quyết định hình phạt.

Đối với bị cáo K tham gia với vai trò là ng ời khởi x ớng, rủ rê, trực tiếp 02 (Hai) lần thực hành hành vi trộm tài sản.

Đối với bị cáo C là ng ời bị rủ rê, là ng ời 02 (Hai) lần cảnh giới cho các bị cáo K, P thực hành hành vi trộm tài sản, trong vụ án này bị cáo tham gia phạm tội với vai trò đ ng phạm.

Đối với bị cáo P là ng ời bị rủ rê, là ng ời trực tiếp 02 (Hai) lần thực hành hành vi trộm tài sản, trong vụ án này bị cáo tham gia phạm tội với vai trò đ ng phạm.

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ng ời khác đ ợc pháp luật bảo v , gây mất an ninh trật tự tại địa ph ơng và tạo ra một d luận xấu trong nhân dân. Khi thực hi n hành vi phạm tội, các bị cáo là ng ời tr ởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhi m hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, biết vi c trộm cắp tài sản của ng ời khác là vi phạm pháp luật nh ng vì vụ lợi, các bị cáo đã cố 02 (Hai) lần thực hi n hành vi trộm cắp tại một nơi, trong một thời gian ngắn, chứng tỏ các bị cáo quá xem th ờng pháp luật. Hội đ ng xét xử xét thấy cần phải xử l các bị cáo bằng một hình phạt thật nghiêm khắc, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đ ng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Các bị cáo thực hi n 02 (Hai) lần phạm tội vào ngày 17/3/2018 và ngày 19/3/2018, đây là tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự đối với các bị cáo đ ợc quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nh tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú, Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt đ ợc quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là ng ời lao động nhập c vào Thành phố H Chí Minh để làm vi c, ng ời làm công nhân, ng ời làm thuê, điều ki n kinh tế còn khó khăn, nhất thời phạm tội nên Hội đ ng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhi m dân sự:

- Bị hại Công ty VNECO9 yêu cầu các bị cáo b i th ờng thi t hại tài sản do các bị cáo chiếm đoạt của 02 (Hai) lần trộm với số tiền 50.700.000đ (Năm m ơi tri u bảy trăm ngàn đ ng), tại phiên tòa, các bị cáo chấp nhận b i th ờng cho bị hại. Hội đ ng xét xử xét thấy sự tự nguy n chấp nhận b i th ờng thi t hại của các bị cáo đối với Công ty VNECO9 là có căn cứ pháp luật theo quy định tại Điều 584, 585, 586, 587, 588 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

- Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Trọng C yêu cầu bị cáo K trả lại số tiền đã giao cho bị cáo K khi mua tài sản của bị cáo K nh ng không biết tài sản do phạm tội mà có với số tiền 15.300.000đ (M ời lăm tri u ba trăm ngàn đ ng). Tại phiên tòa, các bị cáo chấp nhận trả lại số tiền nêu trên cho ông C. Hội đ ng xét xử xét thấy sự tự nguy n chấp nhận trả lại số tiền nêu trên của các bị cáo K, C, P đối với ông C là có căn cứ pháp luật theo quy định tại Điều 584, 585, 586, 587, 588 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

- 01 (Một) đoạn dây cáp đ ng dài 1,40m bên ngoài có bọc nhựa màu đen lõi đ ng đ ờng kính 03cm; 22,65m dây đ ng đã bị bóc vỏ nặng 100kg; 10kg vỏ bọc bằng đ ng, nhôm đã bị cắt vụn; là vật chứng vụ án, các bị cáo đã chấp nhận b i th ờng giá trị bằng tiền cho bị hại nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà n ớc.

- 01 (Một) máy cắt tay hi u Bosch là công cụ, ph ơng ti n phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà n ớc.

- 01 (Một) con dao dài 52cm tay cầm bằng gỗ dài 21cm l ỡi dao màu đen bằng sắt dài 31cm chiều ngang 06cm là công cụ, ph ơng ti n phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 93/CTr-VKS ngày 12 tháng 7 năm 2018 truy tố các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với các bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử l vật chứng và các yêu cầu của bị hại và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo qui định Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nh nhận định nêu trên, xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

- Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và l phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí.

- Buộc các bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và l phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí.

Đối với ng ời tên T cùng với các bị cáo thực hi n vụ trộm ngày 19/3/2018 do ch a xác định đ ợc nhân thân, lai lịch nên ch a làm vi c đ ợc. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử l sau. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Đối với ông Nguyễn Vũ N, ông Hoàng Trọng C khi mua tài sản dây cáp đi n của các bị cáo, không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không áp dụng hình thức xử l . Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2018.

- Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2018.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn H ng P 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2018.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà n ớc 01 (Một) đoạn dây cáp đ ng dài 1,40m bên ngoài có bọc nhựa màu đen lõi đ ng đ ờng kính 03cm; 22,65m dây đ ng đã bị bóc vỏ nặng 100kg; 10kg vỏ bọc bằng đ ng, nhôm đã bị cắt vụn.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà n ớc 01 (Một) máy cắt tay hi u Bosch.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao dài 52cm tay cầm bằng gỗ dài 21cm l ỡi dao màu đen bằng sắt dài 31cm chiều ngang 06cm.

Các vật chứng nêu trên đ ợc li t kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 98/PNK ngày 28/3/2018 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Củ Chi, Thành phố H Chí Minh.

3. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 586, 587, 588 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:

- Buộc các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P liên đới b i th ờng thi t hại tài sản cho bị hại Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9 số tiền 50.700.000đ (Năm m ơi tri u bảy trăm ngàn đ ng), mỗi bị cáo b i th ờng cho bị hại Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9 số tiền 16.900.000đ (M ời sáu tri u chín trăm ngàn đ ng). Thi hành ngay khi Bản án có hi u lực pháp luật.

Kể từ ngày bị hại Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9 có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P chậm nộp số tiền nêu trên thì các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P còn phải nộp thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 t ơng ứng với thời gian chậm thi hành án.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P liên đới trả lại cho ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Trọng C số tiền 15.300.000đ (M ời lăm tri u ba trăm ngàn đ ng), mỗi bị cáo trả lại cho ông Hoàng Trọng C số tiền 5.100.000đ (Năm tri u một trăm ngàn đ ng). Thi hành ngay khi Bản án có hi u lực pháp luật.

Kể từ ngày ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Trọng C có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P chậm nộp số tiền nêu trên thì các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P còn phải nộp thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 t ơng ứng với thời gian chậm thi hành án.

4. Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và l phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đ ng).

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P phải chịu cụ thể nh sau:

- Đối với số tiền b i th ờng cho Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9: Án phí DS-ST mỗi bị cáo chịu là 845.000đ (Tám trăm bốn m ơi lăm ngàn đ ng).

- Đối với số tiền trả lại cho ông Hoàng Trọng C: Án phí DS-ST mỗi bị cáo chịu là 255.000đ (Hai trăm năm m ơi lăm ngàn đ ng).

5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Ngô Văn C, Nguyễn H ng P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (M ời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Công ty cổ phần đầu t và xây dựng VNECO9 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (M ời lăm) ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án đ ợc niêm yết. Đối với ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Trọng C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án đ ợc niêm yết.

Cỡ chữ