vanban.org

Bản án 130/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 184; Các Điều 227, 228, 266, 271

và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; 27-11-2006 của Chính phủ;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng góp hụi giữa chị Ngân với bà Yến"
  • Tòa quyết gì? 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 184; Các Điều 227, 228, 266, 271
  • Căn cứ chính? Điều 688 Bộ luật Dân sự; Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2018/DS-ST
Ngày: 15-8-2018
V/v: Tranh chấp Hợp đồng góp
hụi giữa chị N với bà Y.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Hòa Phúc

Ông Trương Thành Tuấn

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên

tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2018/TLST-DS ngày 18 tháng 01

năm 2018 về “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét

xử số 134/2018/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn

phiên tòa số 103/2018/QĐST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị D T N, sinh năm 1984 (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 02, ấp V P, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Bà P T Y, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 04, ấp V T, xã V B, huyện C T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 05-01-2018, Biên bản lấy lời khai ngày

08-3-2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị D T N trình bày: Chị có tham gia

chơi các dây hụi do bà P T Y làm chủ như sau:

+Dây hụi 1.000.000đ, hụi kỳ, 15 ngày khui một lần, khui lần đầu ngày 15-

01-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-02-2017, tổng số 35 phần, chị tham gia 1 phần

lấy tên N trong danh sách hụi, 1 phần hụi còn sống. Hụi khui đến lần thứ 25 ngày 15-12-2017 âm lịch, nhằm ngày 31-01-2018 thì ngưng do bà Y tuyên bố bể hụi; Chị đóng 1 phần hụi sống 24 lần là 17.800.000đ.

+Dây hụi 3.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày

20-6-2017 âm lịch nhuận, nhằm ngày 11-8-2017, tổng số 25 phần, chị tham gia 1 phần lấy tên N trong danh sách hụi, 1 phần hụi còn sống. Hụi khui đến lần thứ 6 ngày 20-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 06-01-2018 thì ngưng do bà Y tuyên bố bể hụi; Chị đóng 1 phần hụi sống 5 lần là 9.850.000đ.

+Dây hụi 5.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày

25-02-2017 âm lịch, nhằm ngày 22-3-2017, tổng số 20 phần, chị tham gia 2 phần lấy tên N trong danh sách hụi, 2 phần hụi còn sống. Hụi khui đến lần thứ 11 ngày 25-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-01-2018 thì ngưng do bà Y tuyên bố bể hụi; Chị đóng 2 phần hụi sống 10 lần là 62.000.000đ.

Tổng cộng số tiền chị đóng hụi sống là 89.650.000đ.

Tại phiên tòa chị xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu Hội

đồng xét xử xem xét giải quyết đối với dây hụi 1.000.000đ và 01 phần hụi của dây hụi 5.000.000đ vì đây là hụi của em dâu chị tham gia chơi hụi với bà Y.

Nay chị yêu cầu bà P T Y có nghĩa vụ trả lại chị tiền đóng hụi sống là

40.850.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15-3-2018, bị đơn bà P T Y trình bày: Chị D

T N có tham gia chơi các dây hụi do bà làm chủ như sau:

+Dây hụi 1.000.000đ, hụi kỳ, 15 ngày khui một lần, khui lần đầu ngày 15-

01-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-02-2017, tổng số 35 phần, chị N không có tham gia chơi dây hụi này. Dây hụi này chỉ có em dâu chị N tham gia lấy tên con 7 H tham gia 2 phần, nhưng đã giải quyết xong.

+Dây hụi 3.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày

20-6-2017 âm lịch nhuận, nhằm ngày 11-8-2017, tổng số 25 phần, chị N tham gia 1 phần lấy tên N trong danh sách hụi, 1 phần hụi còn sống. Hụi khui đến lần thứ 6 ngày 20-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 06-01-2018 thì ngưng do bể hụi; Chị N đóng 1 phần hụi sống 5 lần là 9.850.000đ.

+Dây hụi 5.000.000đ, hụi tháng, mỗi tháng khui một lần, khui lần đầu ngày

25-02-2017 âm lịch, nhằm ngày 22-3-2017, tổng số 20 phần, chị N tham gia 1 phần, 1 phần là của em dâu chị N, lấy tên H trong danh sách hụi, 1 phần hụi của chị N còn sống. Hụi khui đến lần thứ 10 ngày 25-10-2017 âm lịch, nhằm ngày 12-12-2017 thì ngưng do bể hụi; Chị N đóng 1 phần hụi sống 10 lần là 31.000.000đ.

Tổng cộng số tiền chị N đóng hụi sống là 40.850.000đ.

Nay trước yêu cầu đòi tiền đóng hụi sống của chị N, bà xác định còn nợ

tiền đóng hụi sống của chị N là 40.850.000đ, bà đồng ý trả cho chị N số tiền trên, yêu cầu chị N không tính lãi. Về phương thức thanh toán bà sẽ bán tài sản để trả nợ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát

biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố

tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà P T Y, Tòa án đã tống đạt hợp lệ

Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà Y vẫn

vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng

Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối

với bị đơn bà Y.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện. Đối chiếu

quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điều

471; Điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; Thì vụ án có

quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự mà cụ thể là hợp đồng góp hụi.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ địa chỉ bị đơn, đối chiếu với quy định

của pháp luật tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của

Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ danh sách hụi do nguyên đơn cung cấp;

Biên bản lấy lời khai của chị D T N ngày 08-3-2018 và Biên bản bản lấy lời khai

của bà P T Y ngày 15-3-2018. Ngày 05-01-2018, nguyên đơn khởi kiện. Đối

chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 429; Điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ

Luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 184 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Thì vụ

án còn trong thời hiệu khởi kiện.

[5] Về nội dung giải quyết yêu cầu của đương sự:

Căn cứ danh sách hụi do nguyên đơn cung cấp (bút lục 02 – 06);

Căn cứ Biên bản lấy lời khai chị D T N ngày 08-3-2018 (bút lục 21 – 24);

Căn cứ Biên bản lấy lời khai bà P T Y ngày 15-3-2018 (bút lục 25 – 27),

Từ các căn cứ trên có cơ sở kết luận giữa nguyên đơn chị N và bị đơn bà Y

có phát sinh quan hệ hợp đồng góp hụi, việc góp hụi này đã không kết thúc mà

bị bể hụi vào tháng 11/2017 âm lịch. Nguyên đơn trình bày số tiền đóng hụi

sống là 89.650.000đ và yêu cầu bị đơn trả lại số tiền này, không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu Hội

đồng xét xử xem xét giải quyết đối với dây hụi 1.000.000đ và 01 phần hụi của

dây hụi 5.000.000đ vì đây là hụi của em dâu chị N tham gia chơi hụi với bà Y và

chỉ yêu cầu bà P T Y có nghĩa vụ trả lại chị N tiền đóng hụi sống là

40.850.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn trình bày số tiền đóng hụi sống của nguyên đơn là 40.850.000đ, bị

đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền này nhưng yêu cầu được bán tài sản trả nợ dẫn đến phát sinh tranh chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn không tranh chấp hiệu

lực của các hợp đồng góp hụi. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền hụi sống đã đóng, không yêu cầu tính lãi. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét hiệu lực của các hợp đồng góp hụi.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị D T N rút một phần yêu cầu khởi kiện là

không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đối với dây hụi 1.000.000đ và 01 phần hụi của dây hụi 5.000.000đ. Việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá yêu cầu khởi kiện. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 5 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn thống nhất số tiền đóng hụi

sống của nguyên đơn các dây hụi như sau:

1/Dây hụi 3.000.000đ, khui lần đầu ngày 20-6-2017 âm lịch nhuận, nhằm

ngày 11-8-2017, nguyên đơn đóng hụi sống tổng cộng 9.850.000đ.

2/Dây hụi 5.000.000đ, khui lần đầu ngày 25-02-2017 âm lịch, nhằm ngày

22-3-2017, nguyên đơn đóng hụi sống tổng cộng 31.000.000đ.

Tổng cộng 2 dây hụi trên nguyên đơn đã đóng hụi sống là 40.850.000đ.

Bị đơn đồng ý trả số tiền trên cho nguyên đơn. Tòa án tổ chức hòa giải bị

đơn vắng mặt không có lý do.

[5.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn chị D T N: Xét mối quan hệ tranh chấp

trên, Hội đồng xét xử nhận thấy phía bị đơn là người có lỗi, không thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi, dẫn đến các dây hụi bị bể hụi. Số tiền thực đóng hụi sống của nguyên đơn là 40.850.000đ. Việc vi phạm này đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán một lần số tiền nợ hụi là 40.850.000đ là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 479 của Bộ Luật Dân sự năm 2005; Điều 471 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 và Các Điều 14, 15, 17, 21, 27 và 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5.2] Đối với bị đơn bà P T Y trình bày: Thống nhất và đồng ý trả cho

nguyên đơn số tiền đóng hụi sống là 40.850.000đ, nhưng không tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, bị đơn bà Y phải chịu hậu quả pháp lý của việc không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa.

[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị N, nên chị N không

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn chị N 3.500.000đ tiền

tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003258 ngày 18-

01-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Y có

nghĩa vụ trả lại nguyên đơn chị N 40.850.000đ nên bị đơn bà Y phải chịu

2.042.500đ án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn chị D T N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15-8-2018).

Bị đơn bà P T Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2 Điều 5; Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản

1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 184; Các Điều 227, 228, 266, 271

và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Điều 479 của Bộ Luật Dân sự năm 2005;

Điều 429; Điều 471; Điểm b, d khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật Dân sự năm

2015;

Các Điều 14, 15, 17, 21, 27 và 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày

27-11-2006 của Chính phủ;

khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-

12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu,

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị D T N.

[2] Buộc bị đơn bà P T Y phải trả một lần cho nguyên đơn chị D T N số

tiền đóng hụi sống còn nợ là 40.850.000đ (bốn mươi triệu tám trăm năm mươi

ngàn đồng).

[3] Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường

hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể

từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các

khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả

các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của

số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của

Bộ Luật Dân sự năm 2015.

[4] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị D T N về việc

yêu cầu Tòa án giải quyết đối với dây hụi 1.000.000đ khui lần đầu ngày 15-01-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-02-2017 và 01 phần hụi của dây hụi 5.000.000đ khui lần đầu ngày 25-02-2017 âm lịch, nhằm ngày 22-3-2017.

[5] Về án phí:

Hoàn trả cho nguyên đơn chị D T N 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn

đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003258 ngày 18-01-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bị đơn bà P T Y phải chịu 2.042.500đ (hai triệu không trăm bốn mươi hai

ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị D T N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15-8-2018).

Bị đơn bà P T Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ