vanban.org

Bản án 13 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2]. Về con chung: Giao cháu Hoàng Thái H1, sinh ngày 23/4/2018 cho anh Hoàng Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Do anh H không có nhà nên giao cho ông Hoàng Văn T, bà Lâm Thị Đ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H1 trong thời gian anh H vắng mặt tại gia đình. Về cấp dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung"
  • Tòa quyết gì? của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 13/2025/ HNGĐ - ST
Ngày 31/3/ 2025
“ V/v tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn; Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Xuân Hùng;

2. Bà Nguyễn Thị Bắc;

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên sơ cấp. Trong ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXX- ST ngày 19 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/HPT-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1996; có đơn xin vắng mặt

Nơi thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1998; vắng mặt Nơi thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lâm Thị Đ, sinh năm 1977; có mặt

2. Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1978; có đơn xin vắng mặt Cùng trú tại địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện S, Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1]. Trong đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn cùng với anh Hoàng Văn H vào tháng

6/2017, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nhưng chưa đăng ký kết hôn, cưới mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang vào tháng 6/2018. Sau khi lấy nhau xong chị về gia đình anh H ở chung sống cùng nhau, quá trình chung sống ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 8/2019, nguyên nhân do vợ chồng không hợp

nhau, bảo nhau không ai nghe ai, do đó tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, không cải thiện được và anh H hay đi làm ăn xa không hay về nhà. Từ tháng 08/2019 vợ chồng đã sống ly thân và chị đã về Hải Phòng làm ăn sinh sống từ đó cho đến nay.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được

nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh H được ly hôn nhau.

Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là cháu Hoàng Thái H1, sinh

ngày 23/4/2018, hiện cháu đang ở cùng với bố mẹ anh H từ nhỏ cho đến nay. Chị nhất trí giao cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu, nhưng hiện nay anh H không có mặt tại gia đình nên chị nhất trí để ông T, bà Đ (là ông bà nội cháu H1) nuôi dưỡng cho đến khi anh H về; về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận. Chị hiện đang làm công nhân thu nhập khoảng 7.000.000đ/tháng.

Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[2]. Bị đơn anh Hoàng Văn H hiện không có mặt tại nơi cư trú, Tòa án giao

cho gia đình anh H và niêm yết tại địa phương thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để anh H biết đến làm việc tại Tòa án nhưng anh H vẫn vắng mặtoHoaf vẫn v, nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh H.

[3]. Tại biên bản lấy lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của

bà Lâm Thị Đ, ông Hoàng Văn T trình cũng như tại phiên tòa bà Đ bày:

Anh Hoàng Văn H là con trai của ông, bà. Anh H đã đi làm ăn ở Công ty

tại Bắc Giang từ năm 2022 cho đến nay, hiện nay anh H vắng mặt tại gia đình. Khi đi làm ăn, anh H chỉ bảo là đi làm nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể là ở đâu; Khoảng hơn 1 năm nay anh H không điện thoại về cho gia đình và gia đình cũng không liên lạc cho anh H.

Anh H kết hôn với chị G vào năm 2017, trước khi kết hôn hai bên có tìm

hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C; cưới xong chị G về gia đình nhà ông, bà ở chung cùng gia đình luôn, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 8/2019, do vợ chồng

không hợp nhau, bảo nhau không ai nghe ai, do đó tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, không cải thiện được; vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2019 cho đến nay và chị G đã về quê ở thành phố Hải Phòng làm ăn, sinh sống.

Nay chị G thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên ông,

bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị G và anh H được ly hôn theo quy định của pháp luật.

Quá trình chung sống chị G và anh H có 01 con chung là cháu Hoàng Thái

H1, sinh ngày 23/4/2018, hiện cháu đang ở cùng với gia đình ông, bà từ nhỏ; chị G giao cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu, nhưng hiện nay anh H vắng mặt tại địa phương nên ông, bà nhất trí nuôi dưỡng cháu; ông bà bảo đảm và cam kết sẽ chăm sóc giáo dục cho đến khi anh H về. Về cấp dưỡng nuôi con ông, bà không yêu cầu. Ông, bà làm ruộng và làm thêm có mức thu nhập 15.000.000đ/tháng, ông, bà đảm bảo việc nuôi cháu, ông, bà hiện nay cũng đã có nhà riêng để ở.

[4]. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán,

Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn anh H vắng mặt không chấp hành đến Tòa án để giải quyết vụ án là vi phạm về nghĩa vụ.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51,

khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị G và anh Hoàng Văn H được ly

hôn nhau.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Thái H1, sinh ngày 23/4/2018 cho anh

Hoàng Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Do anh H không có nhà nên ông Hoàng Văn T, bà Lâm Thị Đ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H1 trong thời gian anh H vắng mặt tại gia đình; Về cấp dưỡng nuôi con ông T, bà Đ không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ

thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên

không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo

quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn H, anh H hiện đang cư trú tại huyện S. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập và

quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H vẫn vắng mặt lần thứ hai; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Xét yêu cầu khởi kiện:

Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ do các đương

sự cung cấp và những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được thì có cơ sở xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G kết hôn với anh Hoàng Văn H

vào tháng 6/2017, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, sau cưới mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang số 08 ngày 07 tháng 6 năm 2018. Sau khi cưới chị G về gia đình anh H ở chung sống cùng nhau; quá trình chung sống ban đầu tình cảm hòa thuận hạnh phúc; xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh H là hợp pháp.

Mâu thuẫn phát sinh từ năm 2019, nguyên nhân do vợ chồng không hợp

nhau, do anh H hay đi làm ăn xa không thường xuyên về nhà. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2019 cho đến nay.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ

thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình”.

Xét thấy: Chị G1 và anh H đã xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, hai bên đã

không quan tâm giúp đỡ đến nhau, không cùng chăm sóc, nuôi dạy con chung cũng như đã ly thân nhau về mặt tình cảm được một khoảng thời gian và cả hai không giải hòa được. Như vậy, chị G1 và anh H đã vi phạm nghĩa vụ chung sống vợ chồng, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị G1, cho chị G1 và anh H được ly hôn nhau theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Chị Gái và anh H có 01 con chung là cháu Hoàng Thái H1, sinh ngày 23/4/2018, hiện cháu H1 đang ở cùng với bố mẹ anh H là bà Đ, ông T. Chị Gái nhất trí giao cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu nhưng hiện nay anh H không có mặt tại gia đình nên chị nhất trí để bà Đ, ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu cho đến khi anh H trở về. Căn cứ vào việc làm, thu nhập và điều kiện của bà Đ, ông T thì cháu H1 từ nhỏ đã được ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đảm bảo. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H1 nên giao cho anh Hoàng Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu là hợp lý theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng ông T, bà Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Gái không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài

sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. [3] Về án phí: Chị Gái yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271,

Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82 và 83

của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q. [1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị G và anh Hoàng Văn H được ly hôn nhau.

[2]. Về con chung: Giao cháu Hoàng Thái H1, sinh ngày 23/4/2018 cho anh

Hoàng Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Do anh H không có nhà nên giao cho ông Hoàng Văn T, bà Lâm Thị Đ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H1 trong thời gian anh H vắng mặt tại gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con ông T, bà Đ không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm

nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. [3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Chị Gái được khấu trừ vào số tiền 300.000đ nộp tạm ứng án phí DSST, theo biên lai số 0005381 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động (xác nhận chị G đã nộp đủ).

[4]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ