vanban.org

Bản án 13 — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank).

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng Th phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng số: 1369 -16/2016/HĐTD - LienVietPostBankNinhThuan ngày 18/11/2016 đến xét xử hôm nay ngày 31/5/2021 tổng cộng là 67.286.163đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng LV - Nguyễn Thị Ngọc Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2021
về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
12/2021/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số:
06/2021/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B .
phường Cửu Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
hàng- Phòng khách hàng Ngân hàng thương mại cổ phần B - Chi nhánh N(Giấy
ủy quyền tham gia tố tụng số: 39/2021/GUQ-LienVietPostBank, ngày
22/6/2020)- (Có mặt)
Địa chỉ trụ sở: Số 44 đường 16/4, phường Tấn Tài, thành phố Ph
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Th , sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Tân Sơn 1, xã Thành Hải, thành phố Ph, tỉnh N
Ngày 31 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ph xét xử

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/01/2021, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/11/2016, bà Nguyễn Thị Hồng Th ký hợp đồng tín dụng số: 1369 -16/2016/HĐTD – LienVietPostBankNinhThuan với Ngân hàng Bưu điện Liên việt chi nhánh Nvay số tiền 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng ) số tiền thực tế giải ngân là 135.000.000 đồng; mục đích vay tiêu dùng - mua sắm vật dụng sinh hoạt gia đình. Lãi suất vay được quy định như sau: lãi suất 12%/năm có điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà Nước; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Hồng Th đã trả được tổng số tiền là 117.633.759 đồng ( trong đó có 81.000.000đ gốc và 36.633.759đ lãi), từ ngày 01/12/2019 đến nay bà Thúy không thanh toán thêm cho Ngân hàng khoản tiền nào nữa. Vì vậy Ngân hàng Bưu điện Liên việt chi nhánh Nđã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn vào ngày 10/12/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của hợp đồng tín dụng ngày 18/11/2016 sang nợ quá hạn. Ngân hàng LienVietPostBank đã nhiều lần trực tiếp và có văn bản đôn đốc nhắc nhở yêu cầu bà Thúy thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hồng Th vẫn không thực hiện, do vậy dư nợ gốc 54.000.000đ đồng đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 10/12/2019. Ngân hàng đã làm thủ tục khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng Th , tính đến ngày 31/5/2021 bà Nguyễn Thị Hồng Th còn nợ Ngân hàng LienVietPostBank tổng số tiền 67.286.163đ, trong đó: Nợ gốc 54.000.000đồng và Lãi quá hạn 13.286.163đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng Th phải chịu lãi phát sinh kể từ ngày 01/6/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại theo quy định của hợp đồng tín dụng.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Hồng Th phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng LienVietPostBank toàn bộ số nợ trên bao gồm nợ gốc và lãi quá hạn tổng cộng là 67.286.163đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc 54.000.000đồng và Lãi quá hạn 13.286.163đồng, và khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/6/2021 đến khi thanh toán xong nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ cho bà Nguyễn Thị Hồng Th nhiều lần nhưng bà Thúy không đến Tòa án để giải quyết theo luật định. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương được biết bà Nguyễn Thị Hồng Th có đăng ký hộ khẩu tại thôn Tân Sơn 1, xã Thành Hải, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, nhưng không có mặt tại địa phương, khi đi bà Nguyễn Thị Hồng Th không thông báo gì với địa phương nên địa phương không biết bà Thúy hiện nay làm gì ở đâu, tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hồng Th vẫn thường đi đi, về về lại địa phương. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết tại địa phương các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà Nguyễn Thị Hồng Th vẫn vắng mặt và không đến Tòa án để giải quyết theo quy định pháp luật, do vậy Tòa án ra quyết định xét xử vụ án công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, nguời đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng Th phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng LienVietPostBank toàn bộ số nợ trên bao gồm nợ gốc và lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử là ngày 31/5/2021 tổng cộng là 67.286.163đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc 54.000.000đồng và Lãi quá hạn 13.286.163đồng. Và khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/6/2021 đến khi thanh toán xong nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa HĐXX và đương sự đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không chấp hành pháp luật vi phạm Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng, Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.

Đề nghị HĐXX: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank)

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng Th phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) số nợ tính đến hết ngày 31/5/2021 tổng số tiền là 67.286.163đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc 54.000.000đồng và Lãi quá hạn 13.286.163đồng. Từ ngày 01/6/2021 tiếp tục tính lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn trên nợ gốc theo quy định của hợp đồng tín dụng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp trong vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) với bà Nguyễn Thị Hồng Th , mục đích vay tiền là vay tiêu dùng, bên vay vốn là cá nhân không có mục đích lợi nhuận, vì vậy xác định đây là quan hệ pháp luật dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại thôn Tân Sơn 1, xã Thành Hải, thành phố Ph và nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phgiải quyết. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ph , tỉnh N .

Về tố tụng: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank), yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Hồng Th phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) tổng số tiền tính đến ngày 31/5/2021 là 67.286.163đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc 54.000.000đồng và Lãi quá hạn 13.286.163đồng. Từ ngày 01/6/2021 tiếp tục tính lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn trên nợ gốc theo quy định của hợp đồng tín dụng số: 1369 - 16/2016/HĐTD – LienVietPostBankNinhThuan ngày 18/11/2016.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Hồng Th vắng mặt nên không có lời khai, tuy nhiên, căn cứ vào hợp đồng tín dụng đã ký, khế ước nhận nợ và các giấy tờ liên quan được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) với bà Nguyễn Thị Hồng Th cùng với số tiền đã thanh toán của bà Thúy đối với Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank), thấy có đủ cơ sở để khẳng định bà Thúy có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần B - chi nhánh Nđể vay số tiền là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Hồng Th đã trả được tổng số tiền là 117.633.759 đồng (Một trăm mười bảy triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng), trong đó có 81.000.000đ gốc và 36.633.759đ lãi, tính đến ngày 31/5/2021, bà Nguyễn Thị Hồng Th còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank) tổng số tiền là 67.286.163đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc 54.000.000đồng và Lãi quá hạn 13.286.163đồng. Về số tiền lãi: Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ngân hàng yêu cầu tính mức lãi suất trong hạn và lãi suất nợ gốc quá hạn là phù hợp quy định của pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 398, Điều 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B (LienVietPostBank).

2. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng Th phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng số: 1369 -16/2016/HĐTD - LienVietPostBankNinhThuan ngày 18/11/2016 đến xét xử hôm nay ngày 31/5/2021 tổng cộng là 67.286.163đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc 54.000.000đồng và Lãi quá hạn 13.286.163đồng.

Bà Nguyễn Thị Hồng Th còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 01/6/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng Th phải chịu 3.365.000đ (Ba triệu ba trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền 1.597.000đồng (Một triệu năm trăm chín mươi bảy ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phtheo biên lai thu số: 0023361 ngày 05 tháng 3 năm 2021.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2021); Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ