- Tranh chấp gì? "Phùng Văn P cùng ĐP - cướp TS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
| Tßa ¸n nh©n d©n HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 13/2023/HS-ST Ngµy: 22/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI
- Thµnh phÇn Héi đồng xét xử sơ thẩm gåm cã:
Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Bµ Bùi Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Bộ, cán bộ nghỉ hưu
Bà Nguyễn Thị Hương Giang, Bí thư huyện Đoàn Mỹ Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức Thành phố Hà Nội tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên .
Ngày 22/02/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Phùng Văn P - Sinh năm: 1998; Quê quán: xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội. Nơi thường trú: thôn Lộc Môn, xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; họ tên bố: Bùi Đức T ( đã chết); họ tên mẹ: Phùng Thị X - Sinh năm 1973; vợ: Nguyễn Thị K-Sinh năm 2000; con: có 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự : không.
Nhân thân: Ngày 2/11/2016, bị Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 10/12/2020 bị Tòa án huyện Lương Sơn, Hòa Bình quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện 18 tháng; ngày 17/8/2022 bị Công an huyện Chương Mỹ khởi tố bị cáo về tội Cướp giật tài sản; ngày 26/9/2022 bị Công an huyện Quế Võ, Bắc Ninh khởi tố về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo hiện đang bị Công an huyện Chương Mỹ áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 17/8/2022.
2. Họ tên: Bùi Văn C - Sinh ngày: 31/5/2004; Sinh trú quán: thôn Lạt, xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa; 9/12; họ tên bố: Bùi Văn T ( đã chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị C - sinh năm 1984; tiền án, tiền sự : không; nhân thân: Ngày 12/8/2022 bị Công an huyện Chương Mỹ khởi tố bị can về tội Cướp tài sản; Ngày 17/8/2022 bị Công an huyện Chương Mỹ khởi tố bị can về tội Cướp giật tài sản; ngày 22/9/2022 bị Công an huyện Chương Mỹ khởi tố bị can về tội Cướp giật tài sản; ngày 26/9/2022 bị Công an huyện Quế Võ, Bắc Ninh khởi tố về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo hiện bị Công an huyện Chương Mỹ áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 12/8/2022.
3. Họ và tên: Nguyễn Đức T - Sinh ngày 31/7/2006; sinh trú quán: thôn Phú La, xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên bố: Nguyễn Đức T - sinh năm 1983; họ tên mẹ: Đặng Thị M- Sinh năm 1983; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ trừ ngày 5/8/2022; chuyển tạm giam ngày 12/8/2022. Hiện đang tạm giam tại trại giam số 2, Công an thành phố Hà Nội.
4. Họ và tên: Lê Gia A Tên gọi khác: Doanh. Sinh ngày: 12/12/2005; sinh trú quán: thôn Thượng Thanh, Thanh Cao, Thanh Oai, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình đọ văn hóa: Lớp 8/12; họ tên bố: Lê Gia S - Sinh năm 1972; họ tên mẹ: Lê Thị H - Sinh năm 1982; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự : Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/11/2022 theo lệnh bắt tạm giam số 21 ngày 11/10/2022 của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức.
5. Họ và Tên: Hoàng Thị Tuyết N - Sinh ngày: 12/3/2008; sinh trú quán: thôn Viêm Khê, xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; họ tên bố: Hoàng Việt Q - sinh năm 1977; họ tên mẹ: Nguyễn Thị C-Sinh năm 1988; tiền án, tiền sự : không; nhân thân: Ngày 17/8/2022 bị Công an huyện Chương Mỹ khởi tố bị can về tội Cướp giật tài sản; ngày 29/10/2022 bị Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/8/2022 đến ngày 14/8/2022; hiện tại ngoại.
6. Họ và tên: Nguyễn Văn T - Sinh ngày: 01/7/2005; Sinh trú quán: thôn La Đồng, xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; họ tên bố: Nguyễn Văn Ư - Sinh năm 1968; họ tên mẹ: Đặng Thị M- Sinh năm 1969; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/8/2022 đến ngày 14/8/2022, hiện tại ngoại.
7. Họ và tên: Bạch Thị T - Sinh ngày: 05/8/2004; Sinh trú quán: thôn Viêm Khê, xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; họ tên bố: Bạch Văn C ( đã chết); họ tên mẹ: Lê Thị G - sinh năm 1981; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2022 đến 14/8/202, hiện tại ngoại.
8. Họ và tên: Chu Tấn H - Sinh năm: 1997; Sinh trú quán: thôn Thụy Khê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa : Lớp 12/12; họ tên bố: Chu Mai Vũ - sinh năm 1965; họ tên mẹ: Nguyễn Thị Lan- sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Hồng Nhung - sinh năm 2000; có 01 con, sinh năm 2020’ tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 8/8/2022 đến ngày 13/8/2022, hiện tại ngoại.
- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Đức T, Hoàng Thị Tuyết N,
Nguyễn Văn T, Lê Gia A: bà Đinh Thị Mai Phương – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh số 7 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước thành phố Hà Nội.
- Người bị hại:
+ Bùi Minh T, sinh ngày 26/8/2007.
Người giám hộ cho Bùi Minh T: ông Bùi Văn T (bố đẻ) và bà Bùi Thị N (mẹ đẻ). Cùng cư trú: xóm Chiềng, xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Bùi Minh Tuấn:
ông Nguyễn Ngọc Cường – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh số 7 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước thành phố Hà Nội.
+ Bùi Đoàn Minh P, sinh ngày 17/4/2006
Người giám hộ Cho Bùi Đoàn Minh P: ông Bùi Văn B, sinh năm 1989 (bố đẻ) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1985 (mẹ đẻ). Cùng cư trú: xóm Xê, xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Bùi Đoàn Minh
Phúc: ông Nguyễn Ngọc Cường – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh số 7 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước thành phố Hà Nội.
+ Vũ Hữu T, sinh ngày 17/4/2004.
Nơi cư trú: xóm Chiềng, xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Tại phiên tòa: Các bị cáo có mặt, các bị hại và diện cho các bị hại đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đêm ngày 03/8/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức nhận được tin báo của Công an xã Hợp Tiến về việc tại khu vực địa bàn đường 424 thuộc địa phận thôn Phú Liễn vừa xảy ra một vụ cướp tài sản; Nhóm người bị hại gồm Bùi Minh Tuấn- Sinh ngày 26/8/2007, Bùi Đoàn Minh Phúc- Sinh ngày 17/4/2006 và Vũ Hữu T - Sinh ngày 18/7/2004 cùng địa chỉ Ngọc Lâu, Lạc Sơn, Hòa Bình đi chơi đến khu vực xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức bị một số đối tượng chặn đường hung và chiếm đoạt của anh Tuấn, anh Thành mỗi người một chiếc điện thoại; của anh Bùi Đoàn Minh Phúc 01 chiếc xe máy 29N1-394.66.
Qua xác minh xác định các đối tượng: Phùng Văn P- Sinh năm 1988; Bùi Văn C - sinh năm: 2004 (cùng địa chỉ xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình); Nguyễn Đức T - sinh ngày: 31/7/2006; Hoàng Thị Tuyết N - sinh ngày: 12/3/2008; Bạch Thị T - sinh ngày: 5/8/2004; Nguyễn Văn T - Sinh ngày: 01/7/2005 (cùng địa chỉ xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức); Lê Gia A (tên gọi khác Doanh) quê quán: thôn Thượng Thanh, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai là những đối tượng có liên quan đến vụ việc.
Quá trình điều tra làm rõ:
Phùng Văn P, Bùi Văn C, Hoàng Thị Tuyết N là những đối tượng đã bỏ nhà đi lang thang, trong khoảng thời gian trước đó đã cùng gây ra nhiều hành vi phạm pháp. Tối ngày 3/8/2022, các đối tượng đến chơi tại địa bàn xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức thì gặp Nguyễn Đức T, Bạch Thị T và Lê Gia A. Do giữa Phúc và Trung đã có mối quan hệ quen biết từ trước nên Phúc rủ tất cả cùng đi chơi. Sau khi đến một số nơi, khoảng 9 giờ tối cùng ngày các đối tượng quay trở lại Hợp Tiến. Đến khu vực ngã ba lối vào thôn La Đồng thì bị một nhóm thanh niên từ phía Hòa Bình đi ra đuổi theo, nhóm của Phúc bỏ chạy về hướng thôn Phú La, Hợp Tiến. Trung bảo Trang và Nhi quay lại hỏi xem trong nhóm thanh niên kia có Đông và Tiến không, mục đích Trung bảo Trang và Nhi quay lại nếu có Trung sẽ nói chuyện giảng hòa, nếu không cả bọn sẽ quay lại đánh. Trong lúc Trang và Nhi đi về phía nhóm thanh niên Hòa Bình thì Phúc, Chí, Trung và Gia Anh đi tìm một số vỏ chai bia chuẩn bị làm hung khí.Trang và Nhi đến nơi hỏi và biết không có Đông, Tiến trong nhóm thanh niên khi trước nên đã quay lại nói cho Phúc và cả bọn biết. Tất cả cùng thống nhất quay lại đánh. Phúc, Chí, Trung mang theo một số vỏ chai bia, Lê Gia A mang theo một con dao (đã để sẵn trong ba lô mang theo từ trước). Khi đến cách cầu khoảng 300 mét, nhóm của Phúc bị số thanh niên khi trước đuổi tiếp nên bỏ chạy. Trang và Nhi đi lạc nên số còn lại chia nhau đi tìm, gần đến khu vực Đập Tràn thì tìm thấy. Cả bọn quay trở lại tới gần khu vực ngã ba đường tỉnh lộ 424 thì gặp Bùi Văn Tuấn, Bùi Đoàn Minh Phúc và Vũ Hữu T đang ngồi chơi. Phúc, Chí, Trang, Nhi đi xe đến áp sát Tuấn, Bùi Văn Tuấn sợ bị đánh nên đã điều khiển xe máy biển kiểm soát: 28N1-349.66 (xe của Bùi Đoàn Minh Phúc) bỏ chạy về hướng cầu Đập Tràn, Phùng Văn P đuổi theo chặn được và đã xông đến rút chìa khóa đồng thời ngồi sang xe máy của Tuấn tự điều khiển và yêu cầu Tuấn ngồi xuống lại phía sau để đưa Phúc đến nơi có số người cùng đi; Chí, Trang và Nhi cũng điều khiển xe đi theo Phúc.
Đến nơi gặp Bùi Đoàn Minh Phúc và Vũ Hữu T , Phùng Văn P khống chế số người này rồi bảo Nhi đi tìm gọi Trung và Gia Anh về; Khi vừa về đến nơi, Gia Anh nhảy xuống rút dao ra đe dọa, yêu cầu số người trong nhóm của Bùi Minh Tuấn bỏ điện thoại ra; Do sợ bị đánh nên Tuấn bỏ chiếc điện thoại Huawei ra thì bị Lê Gia A chiếm đoạt; Vũ Hữu T bỏ điện thoại Vivo Y69 ra thì bị Trung chiếm đoạt; Sau đó Gia Anh và Trung đã đưa lại cho Phùng Văn P cả hai điện thoại này.
Sau các hành vi trên, Trung lấy điện thoại của Trang gọi (bằng hình ảnh) đến cho Nguyễn Văn T - Sinh ngày 01/7/2005, địa chỉ thôn La Đồng. xã Hợp Tiến, Tiến nhận ra số thanh niên kia đã có va chạm với Tiến nên đã lấy theo một chiếc gậy 3 khúc đến và dùng gậy vụt vào lưng Vũ Hữu T; Phùng Văn P, Bùi Văn C, Nguyễn Đức T và Lê Gia A cũng xông vào dùng tay chân đấm đá những người trong nhóm của Thành. Do bị đánh nên cả 3 người cùng bỏ chạy về phía vườn nhãn; Chí ném theo 01 vỏ chai bia và cùng Phúc hô dọa theo nếu không lên sẽ lấy xe, lấy hết đồ... nhưng do sợ nên nhóm thanh niên Hòa Bình không dám quay trở lại.
Sau sự việc trên Nguyễn Văn T về nhà; Phùng Văn P đưa chìa khóa xe máy BKS: 28N1-349.66 khi trước đã lấy được cho Chí để Chí điều khiển xe này; Phúc điều khiển xe máy Dream chở Nhi; Trang điều khiển xe máy Wawe biển kiểm soát: 99V1-0524; Trung đi cùng xe máy Dream của Lê Gia A. Đến khu vực Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa thì dừng lại; Phúc xuống xe tháo biển số: 28N1-349.66 cất vào cốp; Chí và Nhi kiểm tra trong cốp xe thấy có 150.000 đồng cũng đưa lại cho Phúc. Sau đó tất cả đi đến khu vực huyện Quốc Oai và ngủ lại ghế đá ven đường. Đến sáng hôm sau 4/8/2022, Phúc cùng Chí và Nhi mang 02 chiếc điện thoại chiếm đoạt được đêm trước đến của hàng của Chu Tấn H- Sinh năm 1997, thôn Thụy Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oại để bán. Chu Tấn H biết đó là các tài sản do phạm tội mà có (do trước đây đã từng mua điện thoại của Phúc) nên nhận mua với số tiền 200.000 đồng. Nhận tiền xong Phúc giao cho Trung xe máy biển số: 99V1-0525 và đưa thêm 50.000 đồng để Trung mua xăng đi về; Lê Gia A cũng điều khiển xe máy Dream chở Trang về Hợp Tiến; Còn lại Phúc, Chí và Nhi tiếp tục đi lang thang cho đến khi bị Công an huyện Chương Mỹ bắt giữ.
Đối với các tang vật liên quan đến hành vi chiếm đoạt của các bị cáo. Căn cứ yêu cầu định giá tài sản số 47/YC-CQĐT ngày 26/8/2022 của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức; Tại biên bản định giá số 44/BB-HĐĐGTS, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Mỹ Đức kết luận:
- Chiếc điện thoại di động VIVO Y69 (tài sản của Vũ Hữu T) trị giá 60.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động Huawei (tài sản của anh Bùi Minh Tuấn) trị giá 60.000 đồng.
- Xe máy biển kiểm soát: 28N1-394.66 trị giá 15.500.000 đồng.
Như vậy cùng với số tiền 150.000 đồng trong cốp xe, số tài sản các bị cáo chiếm đoạt được của những người bị hại xác định là 15.770.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận hành vi và sự việc có liên quan; lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ chứng minh đã được xác định trong quá trình điều tra vụ án.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố các bị cáo: Phùng Văn P, Bùi Văn C, Nguyễn Đức T, Lê Gia A (tên khác: Doanh), Hoàng Thị Tuyết N phạm tội danh: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168; Truy tố các bị cáo: Bạch Thị T và Nguyễn Văn T phạm tội: “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Chu Tấn H phạm tội: “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 điều 323 BLHS
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai rõ:
Phùng Văn P khai do không có công ăn việc làm ổn định nên Phúc rủ Hoàng Thị Tuyết N (người yêu của Phúc) và Bùi Văn C đi lang thang qua nhiều địa bàn khác nhau, khi có cơ hội thì cùng nhau chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu sài, tính đến ngày bị bắt Phúc, Nhi và Chí đã thực hiện nhiều vụ chiếm đoạt tài sản tại địa bàn huyện Chương Mỹ và các địa bàn khác rồi cùng nhau ăn tiêu. Đến tối ngày 03/8/2022, nhóm Phúc Nhi và Chí đi chơi tại địa bàn xã Hợp Tiến, huyện Mỹ Đức thì gặp Nguyễn Đức T, Bạch Thị T và Lê Gia A do Nguyễn Đức T có chơi với Phùng Văn P (Lê Gia A và Bạch Thị T không có quan hệ gì với nhóm Phúc, Nhi và Chí) nhưng được Phúc rủ cả nhóm cùng đi chơi, sau khi đến một số nơi chơi cả bọn quay về khu vực xã Hợp Tiến thì có va chạm và tìm đuổi đánh nhóm thanh niên ở Hòa bình gồm Bùi Minh Tuấn, Bùi Đoàn Minh Phúc, Vũ Hữu T (các bị hại). Trong khi gặp và tiếp xúc với các đối tượng là bị hại, bị cáo Phúc đã yêu cầu Bùi Văn Tuấn giao xe máy và chìa khóa xe cho mình và giao cho Chí quản lý đi xe này, Trung và Lê Gia A sau khi đánh nhau với 02 bị hại còn lại và đã thu giữ tài sản là 02 chiệc điện thoại của Bùi Đoàn Minh Phúc và của Vũ Hữu T sau đó đưa lại cả 02 điện thoại này cho Phùng Văn P, cả bọn gọi thêm Nguyễn Văn T cầm côn 03 khúc ra đánh nhau với các bị hại, do bị đánh không chống đỡ nổi nên các bị hại bỏ chạy bỏ lại tài sản đang bị nhóm của Phúc thu giữ nên Phùng Văn P nảy sinh ý định chiếm đoạt các tài sản này để sử dụng và bán điện thoại để ăn tiêu, Cả bọn cùng nhau trốn lên khu vực huyện Quốc Oai, Phúc giao xe vừa chiếm đoạt được cho Chí đi lên Quốc Oai. Đến sáng ngày hôm sau 04/8/2022 Phúc, Chí và Nhi đi bán 02 chiếc điện thoại này cho cửa hàng của Chu Tấn H được 200.000 đồng, Phúc đưa cho Nguyễn Đức T 50.000.000 đồng và bảo Trung đi về cùng Lê Gia A và Bạch Thị T. Còn nhóm Phúc, Chí và Nhi tiếp tục đi lang thang ăn tiêu số tiền bán điện thoại và đến khi bị bắt.
Phùng Văn P thừa nhận, không quen biết Bạch Thị T, vụ chiếm đoạt tài sản ngày 03/8/2022 tại xã Hợp Tiến, Trang có đi chơi cùng và có chứng kiến sự việc nhưng không liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản của nhóm Phúc.
Các bị cáo Nhi, Chí đều thừa nhận lời trình bày của Phùng Văn P là đúng sự thật. Nhi và Chí đã đi theo Phùng Văn P từ nhiều tháng nay, ăn chung, ngủ chung, ban ngày thường đi lang thang và thực hiện nhiều vụ chiếm đoạt tài sản của người khác trên nhiều địa bàn khác nhau.
Đại diện theo pháp luật của bị cáo Nhi (bà Chiến là mẹ đẻ của bị cáo) cũng trình bày: Khi Nhi còn đang học cấp hai, Phùng Văn P đã nhiều lần đến rủ rê Nhi ra khỏi nhà đi lang thang theo Phúc, bà đã can ngăn nhiều lần và yêu cầu hai bên gia đình, chính quyền can thiệp, nhưng vì do điều kiện công việc, vợ chồng bà phải đi làm tối ngày nên không quản lý được con cái dẫn đến cháu Nhi vẫn tiếp tục đi theo sự rủ rê của Phùng Văn P và gây ra sự việc phạm tội này.
Nguyễn Đức T và Lê Gia A đều thừa chỉ đi chơi một lần với nhóm của Phùng Văn P tối ngày 03/8/2022 và có tham gia cướp tài sản điện thoại rồi sau đó đưa lại cho Phúc chứ không nhằm mục đích hưởng lợi gì mà là do nhận thức hạn chế, thiếu hiểu biết pháp luật, không biết hành vi của mình là rất nguy hiểm cho xã hội nên đã phạm tội. Các bị cáo thừa nhận bị cáo Phúc có đưa cho Trung 50.000 đồng để đổ xăng xe máy đi về nhưng không biết số tiền Phúc đưa là tiền do chiếm đoạt tài sản mà có.
Bạch Thị T trình bày không có quan biết gì với nhóm của Phùng Văn P, Trang là bạn của Trung, được Trung rủ đi chơi và có đi cùng, Trang không tham gia chiếm đoạt tài sản nhưng có chứng kiến sự việc phạm pháp của các bị cáo nói trên nhưng không dám khai báo sợ liên lụy.
Nguyễn Văn T trình bày chỉ quen biết với Nguyễn Đức T, tối ngày 03/8/2022, Tiến bị một nhóm người Hòa Bình đuổi đánh tại khu vực xã Hợp Tiến nhưng chạy thoát và nhắn tin cho Trung kể lại sự việc nên khoảng 9 – 10 giờ đêm ngày 03/8/2022 gọi điện cho Tiến nói đã bắt được nhóm người đánh Tiến nên Tiến có mang theo côn 03 khúc ra đánh nhau, Khi Tiến ra thì nhóm của Phùng Văn P đã chiếm đoạt được tài sản của các bị hại rồi nên sau khi đánh xong Tiến đi về, không liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản. Tiến có biết các đối tượng Phúc, Chí, Nhi, Trung và Lê Gia A chiếm đoạt tài sản của các bị hại nhưng lo sợ bị chịu trách nhiệm nên không tố giác tội phạm.
Chu Tấn H thừa nhận vì hám lời nên có tiêu thụ các tài sản là 02 chiếc điện thoại với giá rẻ từ Phùng Văn P là tài sản do phạm tội mà có.
Đại diện viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo những tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên và đề nghị mức hình phạt đối với từng bị cáo:
Đối với tội “Cướp tài sản”:
Áp dụng điểm e khoản 2 điều 168, điểm o khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1,2 Điều 51, điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt:
Phùng Văn P từ 08 năm tù đến 09 năm tù, thơi hạn tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Áp dụng điểm e khoản 2 điều 168, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt:
Bùi Văn C từ 07 năm tù đến 08 năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Áp dụng điểm e khoản 2 điều 168, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 91, 101, Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt:
Nguyễn Đức T và Lê Gia A (Doanh), mỗi bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù, thời hạn tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.
Hoàng Thị Tuyết N từ 18- 24 tháng tù thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Đối với tội “ Không tố giác tội phạm”
Áp dụng khoản 1 điều 390, điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 91, Điều 36 BLHS. Đề nghị xử phạt:
Bạch Thị T, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo từ 09 – 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Đối với tội: “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm Tội mà có”
Áp dụng khoản 1 điều 323, điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 36 BLHS. Đề nghị xử phạt:
Chu Tấn H mức hình phạt từ 09 – 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản đã bị chiếm đoạt và không có đề nghị bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Án phí: bị cáo phải chịu án phí theo pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo Nhi, Trung, Tiến và Lê Gia A: Nhất trí với truy tố của Viện Kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo và xin giảm nhẹ cho các bị cáo vì thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, các bị cáo đều là vị thành niên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, Bị cáo Tiến phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại Bùi Minh Tuấn và bùi Đoàn Minh Phúc có quan điểm: Nhất trí với truy tố của Viện Kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo đề nghị xem xét, xử phạt các bị cáo theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Kiểm sát viên đều hợp pháp: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên được coi là hợp pháp.
Về tội danh “Cướp tài sản”: Các bị cáo Phùng Văn P, Bùi Văn C, Nguyễn Đức T, Lê Gia A (tên khác: Doanh), Hoàng Thị Tuyết N đã thừa nhận có cùng nhau dùng vũ khí để đánh nhau với các bị hại, sau đó đã yêu cầu họ bàn giao tài sản là 01 xe máy và 02 điện thoại đã qua sử dụng trái với ý muốn của họ. Lời khai các bị hại cũng thừa nhận do sợ hãi vì đã bị đánh và số lượng đông người nên họ phải giao tài sản trái với ý muốn gồm: 01 chiếc xe máy BKS 28N1-394.66 trị giá 15.500.000 đồng và 150.000 đồng trong cốp xe máy của Bùi Đoàn Minh Phúc; 01 điện thoại Vivo Y69 trị giá 60.000 đồng của Vũ Hữu T; 01 điện thoại Huawei trị giá 60.000 đồng của Bùi Minh Tuấn, sau đó họ bỏ chạy để thoát thân. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt được là 15.770.000 đồng. Các bị cáo chiếm đoạt các tài sản này của bị hại trong đó có 01 bị hại chưa đủ 16 tuổi (Vũ Hữu T) nên bị VKS truy tố tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 là hoàn toàn đúng người đúng tội và đúng pháp luật;
Đối với các bị cáo: Bạch Thị T và Nguyễn Văn T không có mục đích, không tiếp nhận ý chí, không tham gia chiếm đoạt tài sản cùng các bị cáo nói trên nhưng chứng kiến trực tiếp sự việc và biết hành vi của các bị cáo Phúc, Trung, Chí, Nhi, và Lê Gia A là phạm tội nhưng lại không tố giác tội phạm kịp thời không ngăn chặn kịp thời các hậu quả nguy hiểm cho xã hội do phạm tội gây ra, nên bị VKS truy tố tội: “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật;
Đối với bị cáo Chu Tấn H biết Phùng Văn P và đồng pham do chiếm đoạt được tài sản trái pháp luật mà có vì trước đó đã nhiều lần giao dịch mua các tài sản do vi phạm pháp luật mà có vì mục đích ham rẻ để kiếm lời, tuy nhiên những lần giao dịch trước đây Hải có mua điện thoại của Phúc nhưng vì thời gian đã lâu không nhớ rõ số tiền mua, loại điện thoại, thời gian giao dịch mua rồi bán cho người khác, hiện tại các tài sản dó không còn. Mặt khác, bản thân Phúc cũng chưa bị truy tố về các hành vi phạm tội này nên không đủ căn cứ xem xét bị cáo Hải phạm tội nhiều lần. Ngày 04/8/2022 Hải lại tiếp tục mua 02 chiếc điện thoại của Phúc với giá 200.000 đồng/02 chiếc mặc dù biết rõ tài sản chiếm đoạt trái pháp luật của người khác nhưng vì ham rẻ đẻ bán kiếm lời. Hải bị VKS truy tố tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 điều 323 BLHS là đúng pháp luật.
Xét vai trò các bị cáo trong tội: “Cướp tài sản”:
Phùng Văn P là người rủ rê, trực tiếp cướp tài sản, quản lý và tiêu thụ các tài sản chiếm đoạt nói trên nên giữ vai trò số 1,
Bùi Văn C là người tham gia từ đầu cho đến khi bị bắt, là người giúp sức đắc lực quản lý tài sản chiếm đoạt cho bị cáo Phúc và cùng tiêu thụ tài sản cùng ăn chia lợi nhuận nên giữ vai trò thứ hai.
Nguyễn Đức T và Lê Gia A có tham gia cướp điện thoại di động của bị hại nên giữ vai trò thứ 3. Hoàng Thị Tuyết N tham gia từ đầu đến cuối và cùng thực hiện với Phùng Văn P tiêu thụ tài sản cùng ăn chia lợi nhuận nên giữ vai trò thứ ba ngang bằng với Nguyễn Đức T và Lê Gia A.
Vai trò các bị cáo trong tội: “Không tố giác tội phạm”: Trang và Tiến đều có hành vi không tham gia cướp tài sản nhưng có biết các đối tượng trên cướp tài sản nhưng không tố giác nên giữ vai trò ngang nhau tội này trong vụ án.
Xét tính chất, hành vi của bị cáo: Vụ án có tính nguy hiểm đã xâm hại đến nhiều khách thể do các bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau cụ thể: Các bị cáo đã xâm hại trực tiếp và gián tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã xâm hại đến hoạt động bình thường của các cơ quan tư pháp trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm làm mất ổn định trật tự tại địa phương nơi bị cáo gây án.
Xét hành vi của các bị cáo:
Trong các tội chiếm đoạt tài sản: Bản thân các bị cáo Phúc, Chí, Nhi, Trung và Anh, Chu Tấn H biết rất rõ hành vi cướp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp chiếm đoạt tài sản trái với ý muốn của người bị hại và đáng bị lên án và bị pháp luật trừng phạt nghiêm khắc, nhưng do đa số các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, chơi bời lêu lổng không tham gia lao động mà vẫn muốn có tiền tiêu sài, kẻ vì hám lợi mà bất chấp pháp luật cố ý thực hiện các hành vi phạm tội. Các bị cáo (Phúc, Chí, Nhi) do Phúc cầm đầu còn thực hiện chuỗi hành vi phạm tội cướp, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản trên nhiều địa bàn, nhiều huyện, tỉnh khác nhau và trong thời gian dài, Các hành vi này hiện đã bị khởi tố chờ ngày đưa ra xét xử. Như vậy hành vi phạm tội này của bị cáo là thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáó là rất nghiêm trọng đã xâm hại nhiều khách thể, phạm tội đối với nhiều bị hại, trong đó có bị hại là người dưới 16 tuổi. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc phù hợp với tính chất vai trò của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành những công dân tốt, sống có ích hơn và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét hành vi của các bị cáo về tội không tố giác tội phạm: Bạch Thị T và Nguyễn Văn T đã có hành vi không tố giác tội phạm thể hiện ở thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm và vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của công dân đối với trách nhiệm đấu tranh phòng chống tội phạm do luật quy định, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, không ngăn chặn kịp thời các hậu quả nguy hiểm cho xã hội do phạm tội gây ra. Vì vậy cũng phải chịu trách nhiệm hình sự bằng một hình phạt tương xứng với tính chất vai trò và hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phùng Văn P cần áp dụng thêm tình tiết tăng nặng rủ rê ( Hoàng Thị Tuyết N) người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại điểm o khoản 1 điều 52 BLHS khi quyết định hình phạt đối với Phúc. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu. HĐXX quyết định áp dụng tình tiếp giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 BLHS, bị cáo Trang, Tiến, Hải còn có thêm tình tiết phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ( điểm i khoản 1 điều 51 BLHS) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án có các bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Gia A, Nguyễn Văn T, Hoàng Thị Tuyết N phạm tội khi đang là vị thành niên (bị cáo Nhi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi) cần áp dụng các quy định của bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để cân nhắc mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt đối với từng bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu thêm nên không xem xét.
Các vấn đề khác:
Quá trình thực hiện hành vi, các bị cáo còn có những tác động xâm hại thân thể đối với những người bị hại, song không gây ảnh hưởng đến sức khỏe, bản thân những người bị hại không có yêu cầu đề nghị nên Cơ quan điều tra không đề cập xem xét là đúng pháp luật.
Các tang vật: 01 điện thoại Vivo Y69; 01 điện thoại Huawie; thu giữ của Phùng Văn P xe máy Hon da Wawe RSX biển kiểm soát: 28N1-394.66; Các tang vật được chuyển giao đến Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức và đã được trả lại chủ chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét.
Ngoài ra Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức còn thu giữ:
- Tại khu vực xảy ra vụ án 01 vỏ chai bia nhãn hiệu Hanove cần tịch thu tiêu hủy theo pháp luật.
- Thu giữ của Bạch Thị T 01 điện thoại Vsmart màu xanh đen bên trong lắp 02 sim số 0389733049 và số 0818193766 cần trả lại cho Trang vì không liên quan đến vụ việc phạm tội.
- Thu giữ của Nguyễn Đức T 01 xe máy biển kiểm soát: 99V1-0524 và 01 đăng ký xe số 000730 mang tên Dương Viết Dưỡng địa chỉ xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Qua xác minh xác định chiếc xe đó là tang vật trong vụ án do Phùng Văn P, Bùi Văn C và Hoàng Thị Tuyết N trộm cắp tại Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức đã bàn giao đến Công an huyện Quế Võ giải quyết theo vụ án là đúng pháp luật.
Riêng đối với các tang vật gồm: 01 chiếc xe máy Dream và con dao do Lê Gia A sử dụng; 01 chiếc gậy 3 khúc do Nguyễn Văn T sử dụng; Các bị cáo đều khai đã vứt bỏ các hung khí đó đi, ngoài ra Lê Gia A khai đã bán xe cho một người không quen biết nên không thu giữ lại được.
Về án phí: Bị cáo Nhi phạm tội khi đang còn là trẻ em nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo còn lại phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
quyÕt ®Þnh:
Tuyên bố các bị cáo: Phùng Văn P, Bùi Văn C, Nguyễn Đức T, Lê Gia A (tên khác: Doanh), Hoàng Thị Tuyết N phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168, điểm s, khoản 1,2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, điều 38 BLHS Xử phạt:
1/ Phùng Văn P 09 (chín) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168, điểm s, khoản 1,2 điều 51; Điều 38 BLHS Xử phạt:
2/ Bùi Văn C 08 (tám) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168, điểm s, khoản 1,2 Điều 51; Điều 91, 101 BLHS, xử phạt:
3/ Nguyễn Đức T 04 năm 06 tháng tù ( bốn năm sáu tháng), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/8/2022.
4/ Lê Gia A ( Doanh) 04 năm 06 tháng tù ( bốn năm sáu tháng), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 12/11/2022.
5/ Hoàng Thị Tuyết N 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 05/8/2022 đến ngày 14/8/2022.
Tuyên bố các bị cáo: Bạch Thị T, Nguyễn Văn T phạm tội: “Không tố giác tội phạm”
Áp dụng khoản 1 Điều 390 BLHS; điểm i, s khoản 1,2 điều 51; Điều 91, 100 BLHS, xử phạt:
6/ Bạch Thị T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2022 đến ngày 14/8/2022 (09 ngày), cứ 01 ngày tạm giữ tạm giam được tính bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, Hình phạt còn lại bị cáo phải chấp hành là 17 tháng 03 ngày (mười bẩy tháng ba ngày), thời hạn chấp hành tính từ ngày ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
7/ Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2022 đến ngày 14/8/2022 (09 ngày), cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam được tính bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, Hình phạt còn lại bị cáo phải chấp hành là 17 tháng 03 ngày (mười bẩy tháng ba ngày), thời hạn chấp hành tính từ ngày ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Tuyên bố bị cáo Chu Tấn H phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 điều 323, điểm i, s khoản 1,2 điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt:
8./ Chu Tấn H mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao c¸c bÞ c¸o được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho UBND xã nơi bị cáo cư trú theo dâi gi¸m s¸t c¸c bÞ c¸o trong thêi gian cải tạo không giam giữ.
Giao c¸c bÞ c¸o được hưởng án treo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú theo dâi gi¸m s¸t c¸c bÞ c¸o trong thêi gian thö th¸ch. Trường hợp trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc theo dõi giám sát được áp dụng theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, đại diện bị hại không có đề nghị gì thêm về phần bồi thường nên không xem xét.
Tang vật: -Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ chai bia nhãn hiệu Hanove bằng thủy tinh có đặc điểm mô tả theo như biên bản giao nhận vật chứng tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Trả lại cho Bạch Thị T 01 điện thoại Vsmart màu xanh đen có số IMEL1: 354581110130177, IMEL2: 354581110130185 kèm theo bên trong điện thoại lắp 02 sim số 0389733049 và số 0818193766, theo biên bản giao nhận vật chứng tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị Tuyết N không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Phùng Văn P, Bùi Văn C, Lê Gia A ( Doanh); Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T và Bạch Thị T, Chu Tấn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật.
¸n xö c«ng khai s¬ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại vắng mặt, đại diện cho bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Các Hội thẩm nhân dân
| N¬i nhËn: - TAND thµnh phè Hµ Néi - ViÖn KiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Mỹ Đức - Chị cục THA Dân sự huyện Mỹ Đức - BÞ c¸o, người bị hại, người liên quan - Ủy ban nhân dân xã ( thị trấn) nơi bị cáo cư trú - Lưu hå s¬ C¸c héi thÈm nh©n d©n | Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa Tm. Héi ®ång xÐt xö ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Bùi Thị Hồng Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |