vanban.org

Bản án 13/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trung T với chị Huỳnh Thị Kim N.

Về con chung: giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh năm 2014 và Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2016 cho chị Huỳnh Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh Nguyễn Trung T có nghĩa vụ: cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh năm 2014 mỗi tháng 3.000.000 đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Trung T - Huỳnh Thị Kim N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trung T với chị Huỳnh Thị Kim N.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 14-01-2026.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Xuân Thủy;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: bà Đàm Nguyên Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - T tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Lâm Thúy Vi – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 787/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1983; hộ chiếu số: xxxxxxxx, cấp ngày 10-6-2019; địa chỉ nơi thường trú: ấp C, xã T, tỉnh T; Nơi cư trú hiện nay: Juktori 1104-8, số 42-2301 G, thành phố G, tỉnh GN, H (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: chị Huỳnh Thị Kim N, sinh năm 1983; chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp X, xã H, tỉnh T, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Nguyễn Trung T trình bày:

Anh và chị Huỳnh Thị Kim N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phong, huyện T, tỉnh T nay là xã P, tỉnh T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng khác biệt về tính cách, không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Vợ chồng anh chị đã hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Anh đã đi lao động nước ngoài nên vợ chồng đã ly thân khoảng 6 năm nay. Nay anh không còn tình cảm với chị N nên yêu cầu được ly hôn với chị N.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh năm 2014 và Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2016. Ly hôn anh đồng ý giao hai con chung lại cho chị N nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Huỳnh Thị Kim N trình bày:

Chị thừa nhận lời trình bày của anh T là đúng về thời gian kết hôn, sống chung và con chung. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc tuy nhiên sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài. Từ năm 2017 tới nay anh chị đã ly thân, chị sống chung với hai con từ đó cho tới nay.

Về con chung: anh chị có hai con chung là Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh năm 2014 và Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2016. Ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân.

Về tài sản chung, nợ chung: chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Trung T đối với chị Huỳnh Thị Kim N. Về con chung: giao chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung đối với hai cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C và Nguyễn Ngọc Quỳnh A với mức cấp dưỡng là: 3.000.000 đồng/tháng/01 cháu.

Về nợ chung, tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: anh T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: anh Nguyễn Trung T và chị Huỳnh Thị Kim N có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: anh T và chị N chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh T nay là xã P, tỉnh T nên hôn nhân của anh T, chị N là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống anh chị thừa nhận hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, hai anh chị đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay, nay anh chị đồng ý ly hôn tuy nhiên xin xét xử vắng mặt. Do đó cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trung T đối với chị Huỳnh Thị Kim N.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh năm 2014 và Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2016. Do anh T và chị N đều thống nhất sau khi ly hôn thì giao 02 con chung cho chị Huỳnh Thị Kim N trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giao dục. Ghi nhận anh T đồng ý tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung là mỗi tháng 3.000.000 đồng/cháu cho đến khi con thành niên và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân.

Về tài sản chung và nợ chung: anh T, chị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - T là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trung T với chị Huỳnh Thị Kim N.

2. Về con chung: giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh năm 2014 và Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2016 cho chị Huỳnh Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

Anh Nguyễn Trung T có nghĩa vụ: cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh năm 2014 mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2016 mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng được tính từ ngày 14-01-2026 cho đến khi cháu Châu và cháu Anh thành niên.

Sau khi ly hôn anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.

Kể từ ngày chị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh T không thi hành số tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng anh T còn phải trả cho chị N số tiền đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về tài sản chung và nợ chung: anh T, chị N không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Nguyễn Trung T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0011124 ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh T, anh T còn phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ