vanban.org

Bản án 13/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phan Thị Cẩm N đối với ông Trần Văn Ú.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Cẩm N được ly hôn với ông Trần Văn Ú. 2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Phan Thị Cẩm N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 06/3/2023 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Ông Trần Văn Ú phải có nghĩa vụ cấp dưỡng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Cẩm N-Trần văn U"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phan Thị Cẩm N đối với ông Trần Văn Ú.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 18
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Tạo;

2. Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 392/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2026 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 466/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 26 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm N, sinh năm 2002; hộ khẩu thường trú: Tổ E, ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Lô C, đường N, tổ B, khu phố F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn Ú, sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã P, thành phố Cần Thơ; tạm trú: Nhà trọ H, đường N, tổ C, khu phố G, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ngày 15/9/2025, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Ú và bà N có mối quan hệ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 01/11/2022. Quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hiện đã không còn sống chung. Bà N thấy rằng, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông Ú.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 06/3/2023. Bà N yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Ú cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Tại đơn vắng mặt ngày 23/02/2026, bà N yêu cầu ông Ú cấp dưỡng theo quy định pháp luật là 1/2 mức lương tối thiểu vùng tương đương 2.700.000 đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chứng cứ nguyên đơn giao nộp: Bản chính đơn xin ly hôn; bản sao giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy khai sinh.

* Ý kiến của bị đơn:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết để ông Ú tham gia tố tụng nhưng ông Ú cố tình vắng mặt mà không có lý do nên không thu thập được ý kiến.

* Xác minh và làm việc của Tòa án:

Tòa án đã tiến hành xác minh đối với anh trai nguyên đơn, xác định: Quá trình chung sống, vợ chồng sống chung không hợp, không còn yêu thương nhau, hiện vợ chồng đã không còn sống chung với nhau.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Việc vắng mặt của bị đơn là cố tình nên đề nghị xét xử vắng mặt đương sự theo các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là cố tình nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà N khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn ông Ú, ông Ú có nơi cư trú tại phường C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh và quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo đơn xin ly hôn, bà N khởi kiện ly hôn với ông N1. Quá trình tố tụng, bà N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Ú không có ý kiến.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà N:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Ú và bà N có mối quan hệ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 01/11/2022. Hôn nhân giữa bà N và ông Ú đã thực hiện đúng thủ tục quy định nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Trong thời gian chung sống, ông Ú và bà N có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do sống chung không hợp, không ai quan tâm, chăm sóc nhau; hiện vợ chồng không còn ở chung. Quá trình giải quyết vụ án, ông Ú cố tình vắng mặt, điều này thể hiện bị đơn không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm. Thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông Ú theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà N và ông Ú có 01 con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 06/3/2023. Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, cháu K được bà N chăm sóc tốt, hiện cháu đang ở với mẹ nên Hội đồng xét xử giao cháu cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì cha không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chưa thành niên. Ông Ú không trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Căn cứ vào tình hình thực tế với mức sống trung bình tại địa phương và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.700.000 đồng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với khả năng kinh tế của ông Ú nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà N xác định tự thoả thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà N không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh về quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa cũng như nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Bà N tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông Ú phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 19, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 107 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phan Thị Cẩm N đối với ông Trần Văn Ú.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Cẩm N được ly hôn với ông Trần Văn Ú.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Phan Thị Cẩm N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 06/3/2023 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Ông Trần Văn Ú phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm ngàn đồng) cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Thực hiện cấp dưỡng nuôi con từ tháng 3/2026.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Phan Thị Cẩm N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Văn Ú không thực hiện việc cấp dưỡng nêu trên, thì hàng tháng ông Ú còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

- Bà Phan Thị Cẩm N tự nguyện chịu toàn bộ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0020202 ngày 26/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

- Ông Trần Văn Ú chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ