vanban.org

Bản án 13/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Vũ Thị Kim M.

Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Kim M và anh Trần Thế H được ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Kim M - Trần Thế H - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Vũ Thị Kim M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-02-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chúc Ngân

Bà Cao Thị Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/ 2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Kim M, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A, ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Trần Thế H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số B, ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Vũ Thị Kim M trình bày:

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Kim M và anh Trần Thế H quen biết, tìm hiểu và yêu nhau được khoảng hai năm thì tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/02/2012.

Theo chị M, vợ chồng chung sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc nhưng khoảng năm 2017 khi vợ chồng dọn nhà ra sống riêng thì mâu thuẫn bắt đầu phát sinh. Nguyên nhân là do cuộc hôn nhân trước đây giữa chị M với người chồng trước có một người con và chị M đã đưa con về sống chung nên từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thống nhất với nhau về quan điểm sống, anh H thường xuyên uống rượu rồi có những lời lẽ xúc phạm chị M dẫn đến việc vợ chồng hay lớn tiếng cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt mà không thể hàn gắn được. Khi mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được, khoảng tháng 6/2023 chị M đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhưng anh H mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ nên chị M đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, vợ chồng chỉ chung sống được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn lại tiếp diễn nên chị và anh H đã thống nhất bán nhà chung và chị M cùng các con dọn về nhà cha mẹ đẻ của chị M sống từ khoảng tháng 9/2024 cho đến nay, kể từ đó vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng và cũng không nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn. Nay chị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên chị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thế H.

- Về con chung: Vợ chồng có bốn con chung là cháu Trần Nam H1, sinh ngày 01/01/2012; cháu Trần Vũ Mỹ H2, sinh ngày 04/9/2013; cháu Trần Mỹ H3, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Trần Mỹ H4, sinh ngày 27/3/2022, hiện các con đều đang sống với chị M. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục bốn con chung; chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị Kim M khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Trần Thế H vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị Kim M và anh Trần Thế H được ly hôn.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần Nam H1, sinh ngày 01/01/2012; cháu Trần Vũ Mỹ H2, sinh ngày 04/9/2013; cháu Trần Mỹ H3, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Trần Mỹ H4, sinh ngày 27/3/2022 cho chị M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

+ Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Kim M và anh Trần Thế H tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/02/2012, căn cứ Điều 9 và Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đây được xem là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị M và anh H đã không còn sống chung với nhau từ khoảng tháng 9/2024 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình. Do quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nhưng chị M và anh H không trình báo nên chính quyền địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa các bên, lời khai của chị M mặc dù không được anh H thừa nhận nhưng phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 128/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất) và phù hợp với lời khai của người làm chứng:“... Thời gian đầu sinh sống, vợ chồng anh chị vẫn sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2021 thì vợ chồng anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn xuất phát từ việc chị M có một người con riêng với người chồng trước khiến vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã. Ngoài ra, anh H còn hay nhậu nhẹt, rượu chè, ít quan tâm vợ con, cuộc sống gia đình chị M phải gánh vác. Sau đó, chị M đã bắt đầu dọn ra ở riêng và dẫn theo các con, vợ chồng cũng đã từng cho nhau cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng chỉ được một thời gian thì mâu thuẫn lại tiếp diễn và hiện nay vợ chồng anh chị đã sống ly thân”. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng anh H đều không đến thể hiện việc anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị M.

Từ các phân tích trên, xét mâu thuẫn giữa chị M và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị M và anh H có bốn con chung là cháu Trần Nam H1, sinh ngày 01/01/2012; cháu Trần Vũ Mỹ H2, sinh ngày 04/9/2013; cháu Trần Mỹ H3, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Trần Mỹ H4, sinh ngày 27/3/2022.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo chị M, hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Chị M xác định đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con chung; yêu cầu của chị M phù hợp với nguyện vọng của các con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao bốn con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Chị M hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chị M không yêu cầu nên tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh H vắng mặt nên không có ý kiến trình bày; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.

Về án phí: Chị Vũ Thị Kim M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 9; Điều 11; Điều 89 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Vũ Thị Kim M.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Kim M và anh Trần Thế H được ly hôn.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Trần Nam H1, sinh ngày 01/01/2012; cháu Trần Vũ Mỹ H2, sinh ngày 04/9/2013; cháu Trần Mỹ H3, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Trần Mỹ H4, sinh ngày 27/3/2022 cho chị Vũ Thị Kim M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.2 Anh Trần Thế H được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Tạm thời anh Trần Thế H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Vũ Thị Kim M không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị Kim M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0008162 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Vũ Thị Kim M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ