- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H- Hoàng Xuân Kh"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 10-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: bà Vương Thị Hồng Thanh và ông Từ Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: bà Phùng Kim Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2025 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 412/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Cảnh B, sinh năm 1992 tại tỉnh Ngh An; thường tr : thôn H, xã L, huy n A, tỉnh Ngh An; nghề nghi p: không; trình độ h c vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Cảnh L (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1959; bị cáo chưa có vợ con; có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2010/HS-ST ngày 26/01/2010 của Tòa án nhân dân huy n Anh Sơn, tỉnh Nghê An xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội cướp giật tài sản. Bản án số 43/2020/HSPT ngày 20/4/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Ngh An y án sơ thẩm; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, án phí sơ thẩm và ph c thẩm; tại bản án hình sự sơ thẩm số 410/2012/HSST ngày 27/12/2012, Tòa án nhân dân huy n Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 45 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt và án phí; bản án số 09/2021/HSST ngày 28/01/2021, tòa án nhân dân huy n Anh Sơn, tỉnh Ngh An xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội đánh bạc, chấp hành xong hình phạt ngày 28/8/2021, đã chấp hành xong án phí ngày 09/3/2021; bị tạm giam từ ngày 08/01/2025; tạm gi , tạm giam từ ngày 16/7/2024, trả tự do ngày 12/10/2024. Có mặt.
- Người đại di n hợp pháp của bị cáo: bà Trần Thị T, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn H, xã L, huy n A, tỉnh Ngh An. Có mặt.
- Người bào ch a: ông Bùi Tiến M, Luật sư thuộc Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị hại: anh Trần Duy H, sinh năm 1999; thương tr : Thôn H, xã P, huy n Đ, tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: B N, khhu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Cảnh T1, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp D, xã X, huy n T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 50 ph t ngày 10/6/2024, Nguyễn Cảnh B đi bộ đến cửa hàng đi n thoại di động "24H MOBILE" do anh Trần Duy H, sinh năm: 1999; thường tr : thôn H, xã P, huy n Đ, Quảng Ngãi là chủ cơ sở, để hỏi mua trả góp đi n thoại di động thì chị Nguyễn Thị N là nhân viên của cửa hàng lấy ra 06 đi n thoại di động để trên bàn cho B lựa ch n. Bắc ch n mua 01 đi n thoại Iphone 14 Promax màu tím và đưa căn cước công dân của mình (tên Nguyễn Cảnh B) cho chị N làm thủ tục để mua trả góp. Lợi dụng l c chị N làm thủ tục không để ý, B lén l t lấy trộm 01 đi n thoại di động Iphone 14 Pro, màu tím để trên bàn bỏ vào t i quần phía sau bên trái. Sau đó, B nhận lại căn cước công dân của mình rồi bỏ đi. Sau khi lấy được đi n thoại, B mang đi n thoại di động Iphone 14 Pro về cất giấu tại nhà anh ruột là Nguyễn Cảnh T1, sinh năm: 1986 tại địa chỉ: ấp D, xã S, huy n T, tỉnh Đồng Nai để sau này đem ra sử dụng mà không nói cho ai biết. Đến 16 giờ 00 ph t cùng ngày, chị N kiểm kê lại hàng thì phát hi n mất 01 đi n thoại di động Iphone 14 Pro, màu tím nên đã đến Công an phường D trình báo sự vi c. Đến ngày 16/7/2024 do nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Cảnh B đến Công an phường D đầu th .
Theo bản Kết luận định giá tài sản số 127/KLĐG-HĐĐGTS ngày 08/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D kết luận: 01 đi n thoại di động hi u Iphone 14 Pro 128GB màu tím trị giá 18.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 3640/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của phòng KTHS Công an tỉnh B đã trích xuất 12 khung hình lưu trong 3 tập tin video, đoạn video; không phát hi n dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung.
Kết luận giám định giám định pháp y tâm thần số 7842/KLGĐ ngày 21/10/2024 của trung tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố H kết luận: trước, trong và sau khi thực hi n hành vi phạm tội ngày 10/6/2024, Nguyễn Cảnh B bị động kinh/Hội chứng sau chấn động não/Viêm gan B (G40/F07.2/B18-JCD10), hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại cáo trạng số 403/CT - VKS ngày 30 tháng 11 năm 2024, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Cảnh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh B hình phạt 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Ngày 22/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định trả lại đi n thoại di động hi u Iphone 14 Pro 128GB màu tím cho bị hại.
Về trách nhi m dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 đi n thoại di động hi u Iphone 14 Pro 128GB màu tím trị giá 18.000.000 đồng, đã thu hồi trả cho bị hại. Anh Trần Duy H không yêu cầu gì nên trách nhi m dân sự không đặt ra.
Đối với anh Nguyễn Cảnh T1 không biết sau khi B chiếm đoạt Iphone 14Pro đem về cất giấu tại nhà nên không xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Cảnh B không tranh luận, đối đáp gì. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.
Tại bài bào ch a, người bào ch a cho bị cáo, luật sư Bùi Tiến M trình bày: Thống nhất với cáo trạng của Vi n kiểm sát truy tố đối với bị cáo về hành vi phạm tội, về tội danh. Bị cáo có tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo đầu th là tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại điểm s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.
Người đại di n hợp pháp của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại di n hợp pháp của bị cáokhông có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, người bào ch a, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng, các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 50 ph t ngày 10/6/2024 tại cửa hàng kinh doanh 24H Mobile, số B N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Cảnh B lén l t chiếm đoạt tài sản là đi n thoại di động hi u Iphone 14 Pro 128Gb màu tím trị giá 18.000.000 đồng của anh Trần Duy H. Hành vi của Nguyễn Cảnh B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 403/CT - VKS ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đ ng người, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hi n tuy là ít nghiêm tr ng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo v , gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức rõ hành vi lén l t chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hi n. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hi n, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhi m hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu th ; phạm tội trong trường hợp là người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; đây là nh ng tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hi n chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài h c kinh nghi m để hướng thi n mà tiếp tục thực hi n hành vi phạm tội.
Trách nhi m dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 đi n thoại di động hi u Iphone 14 Pro 128GB màu tím trị giá 18.000.000 đồng, đã thu hồi trả cho bị hại. Anh Trần Duy H không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Cảnh T1 không biết sau khi B chiếm đoạt Iphone 14Pro đem về cất giấu tại nhà nên không xử lý.
Hình phạt chính: Từ nh ng phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù đối với cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt như đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Án phí sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh B 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025; được khấu trừ thời hạn tạm gi , tạm giam từ ngày 16/7/2024 đến ngày 12/10/2024.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Cảnh B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng .
Bị cáo, người đại di n hợp pháp của bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bào ch a cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp l .
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán-Chủ t a phiên tòa