vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 24/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”

Về hình phạt: C n c điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo Trương Thị S 12 (mười hai) n m tù, thời hạn tù tính từ ng y 23/4/2024 Về trách nhiệm dân sự: C n c Điều 48 Bộ luật H nh sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trương Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh sự tịch thu sung quỹ nh nước - Đối; Điều 47 Bộ luật H nh sự; Điều 48 Bộ luật H nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 24-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Thẩm phán: Ông Hồ Đ c Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tr n Đ ng Ninh, ng Nguyễn V n Đ c, ng Nguyễn Đ nh Ho i

- Thư ký phiên tòa: B Lê Hồng Na - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh H Tĩnh

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nam - Kiểm sát viên

Ng y 24 tháng 02 n m 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh H Tĩnh xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án h nh sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 01 n m 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 n m 2025 đối với bị cáo:

Trương Thị S; Giới tính: Nữ; Sinh ng y: 02/10/1983; Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr nh độ học vấn: 12/12; Con ng Trương Quốc H, con bà Nguyễn Thị L (đã chết); C chồng Bùi V n V v 03 con, lớn nhất sinh n m 2008, nh nhất sinh n m 2016; Tiền án, tiền sự: Kh ng; Bị bắt tạm giam từ ng y 23/4/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam C ng an tỉnh H C mặt

- Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Phan Quốc T, sinh n m 1988 - V n phòng L4, thuộc đo n luật sư H12; Địa chỉ: Số E đường T, phường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

- Người bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh n m 1974; nghề nghiệp: L m ruộng; Địa chỉ: Th n N, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh n m 1988; nghề nghiệp: Kế toán; Địa chỉ: Thôn K, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Ông Lê Đ ng V1, sinh n m 1984; nghề nghiệp: Lái xe; Địa chỉ: Thôn K, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Ông Nguyễn Hồng L1, sinh n m 1981; nghề nghiệp: Kinh doanh; Địa chỉ: Th n B, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Bà Bùi Thị H2, sinh n m 1973; nghề nghiệp: L m ruộng; Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Ông Dương V n C, sinh n m 1972; nghề nghiệp: L m ruộng; Địa chỉ: Th n T, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Ông Nguyễn Hữu Q, sinh n m 1969; nghề nghiệp: L m ruộng; Địa chỉ: Th n B, xã L, huyện T, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Ông Tr n Bá H3, sinh n m 1983; Địa chỉ: Th n T, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (vắng mặt)

+ Bà Tr n Thị V2, sinh n m 1957; Địa chỉ: Th n T, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (vắng mặt)

+ Bà Tr n Thị T2, sinh n m 1967; nghề nghiệp: l m ruộng; Địa chỉ: Số nh B, ngõ B, đường V, phường T, th nh phố H (c mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Ho ng Trọng T3, sinh n m 1991; Địa chỉ: Th n T, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (vắng mặt)

+ Bà Phan Thị T4, sinh n m 1962; Địa chỉ: Th n T, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (vắng mặt)

+ Ông Bùi V n V, sinh n m 1980; Địa chỉ: Th n K, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Ông Trương Quang L2, sinh n m 1967; Địa chỉ: K Y, phường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Thanh H4, sinh n m 1988; Địa chỉ: Th n T, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (vắng mặt).

+ Ông Nguyễn V n Ý, sinh n m 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (vắng mặt)

+ Chị Tr n Thị H5, sinh n m 1993; Địa chỉ: Số nh G, tổ dân phố B, phường N, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (vắng mặt)

+ Bà Phan Thị I, sinh n m 1974; Địa chỉ: X m L, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

+ Bà Phan Thị X, sinh n m 1956; Địa chỉ: Số nh C, ngõ E, đường T, phường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (c mặt)

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các t i liệu c trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên to , nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Bị cáo Trương Thị S từng c thời gian l m h p đồng tạp vụ tại Ban bồi thường, hỗ tr tái định cư th nh phố H v V n phòng HĐND – UBND th nh phố H, sau đ nghỉ việc Do Trương Thị S vay mư n tiền của nhiều người để kinh doanh bất động sản nhưng bị thua lỗ, cùng với việc sử dụng tiền chi tiêu cá nhân kh ng cân đối dẫn đến n tiền của nhiều người, nên Trương Thị S đã nảy sinh ý định thực hiện h nh vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng thủ đoạn đưa ra nhiều th ng tin gian dối khác nhau như: Tự nhận m nh l cán bộ Sở T i nguyên m i trường hoặc cơ quan Nh nước c khả n ng l m thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu n m sang đất ở, l m thủ tục cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất; xin mua đất cấp, mua đất bán đấu giá với giá rẻ,… để những người bị hại tin tưởng đưa tiền cho S rồi chiếm đoạt để sử dụng trả n v chi tiêu cá nhân.

Bằng thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ n m 2019 đến ng y 12/4/2024, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của 09 bị hại trên địa b n tỉnh H Tĩnh với tổng số tiền 1 786 700 000 đồng Cụ thể như sau:

1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 147.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974, trú tại th n N, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay là xã T, th nh phố H):

N m 2019, b Nguyễn Thị H1 đã trao đổi với Trương Thị S về việc l m thủ tục cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, sang tên từ bố chồng l ng Trương Quang H6 cho v chồng b H1 v t ng thêm diện tích đất trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất Tin tưởng S, nên từ n m 2019 đến tháng 11/2023, bà H1 đã 06 l n đưa cho S với tổng số tiền l 147 000 000 đồng Cụ thể:

- Từ n m 2019 đến n m 2022, b Nguyễn Thị H1 đã 04 l n đưa 82 000 000 đồng cho Trương Thị S tại nh b H1, l n lư t l : 20 000 000 đồng, 30 000 000 đồng, 30 000 000 đồng v 2 000 000 đồng (kh ng xác định đư c thời gian cụ thể của từng l n đưa tiền)

- Tháng 11/2023, Trương Thị S n i dối với b Nguyễn Thị H1 l thủ tục sắp ho n th nh v đưa thêm cho S 50 000 000 đồng để đ ng thuế đất, nên b H1 đã đưa 50 000 000 đồng cho S tại nh b H1 Sau đ , S tiếp tục n i dối với b H1 đang c n 15 000 000 đồng để chi phí hỗ tr cho những người l m giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất nên b H1 đưa tiếp cho S 15 000 000 đồng

Cũng trong tháng 11/2023, theo yêu c u của Trương Thị S thì bà Nguyễn Thị H1 đã đưa cho S 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: H788754 và 01 giấy ch ng minh nhân dân mang tên ng Trương Quang H6 (bản gốc) để l m thủ tục cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, S kh ng l m thủ tục g v kh ng nộp các giấy tờ trên cho cơ quan c thẩm quyền như h a hẹn m đưa cho bà Phan Thị X (sinh n m 1956, trú tại: Tổ E, phường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh) để l m tin do trước đ S c vay mư n tiền của b X nhưng chưa trả hết Việc S đưa các giấy tờ trên cho b X thì bà H1 kh ng biết v b X cũng kh ng biết nguồn gốc giấy tờ trên do đâu m c , kh ng biết S có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của b H1 Hiện nay, b Phan Thị X đã tự nguyện giao nộp v Cơ quan điều tra đã trả lại các giấy tờ trên cho b Nguyễn Thị H1.

Sau khi nhận tiền, S kh ng thực hiện l m thủ tục cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho b H1 như đã h a hẹn m sử dụng trả n v chi tiêu cá nhân Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của b Nguyễn Thị H1 số tiền 147 000 000 đồng Hiện nay, Trương Thị S đã tác động với chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho b H1 số tiền 39 000 000 đồng B H1 yêu c u S tiếp tục bồi thường số tiền 108 000 000 đồng

2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 266.000.000 đồng của vợ chồng bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1988) và ông Lê Đ ng V1 (sinh năm 1984), trú tại th n K, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H):

Ông Nguyễn Hữu S1, sinh n m 1964, trú tại th n N, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H), l bố đẻ của b Nguyễn Thị T1 c nhu c u l m giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất gia đ nh ng S1 đang sinh sống, nên khoảng tháng 6/2020, ng Lê Đ ng V1 và ông S1 đã trao đổi với Trương Thị S thì S đồng ý v h a hẹn trong thời hạn 02 tháng sẽ l m xong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho ng S1 với chi phí l 20 000 000 đồng Tin tưởng S, nên ngày 24/7/2020 ông Lê Đ ng V1 đã đến nh đưa cho S số tiền 20 000 000 đồng

Khoảng cuối n m 2020, biết đư c th ng tin c quy hoạch bán đất cấp ở khu vực phía sau Cây x ng T thuộc xã L, huyện T, tỉnh H Tĩnh v biết v chồng ông Lê Đ ng V1, bà Nguyễn Thị T1 c nhu c u mua đất để l m nh ở riêng, nên Trương Thị S nói dối với b T1, ông V1 là S c thể xin mua đư c đất cấp với chi phí 25 000 000 đồng/01 thửa đất Tin tưởng S, nên bà T1 và ông V1 nhờ S làm thủ tục xin mua 02 thửa đất liền kề nhau theo diện đất cấp v đưa cho S 50 000 000 đồng tại Công ty P1 ở số A đường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh (nơi bà T1 l m việc), kèm theo bộ hồ sơ xin mua đất cấp lấy th ng tin v chồng ng Nguyễn Kim Đ, bà Trương Thị D, trú tại xã L, huyện T, tỉnh H Tĩnh Đến tháng 01/2021, S tiếp tục n i dối với b T1 c n tiền để chi phí cảm ơn người xét duyệt, nên bà T1 đã đưa thêm cho S 6 000 000 đồng

Cùng thời điểm n y, biết đư c th ng tin tại khu vực th n N, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H) c đ t xét duyệt đất cấp, nên tiếp tục n i dối với b T1, ông V1 về việc S c thể xin mua đư c đất cấp với chi phí 35 000 000 đồng/ 01 thửa đất Tin tưởng S, nên bà T1 đã nhờ S l m thủ tục xin mua một thửa đất v đưa cho S 35 000 000 đồng tại Công ty P1 (nơi b T1 làm việc), kèm theo bộ hồ sơ xin mua đất cấp lấy th ng tin v chồng ng Võ Tá N, bà Nguyễn Thị L3, trú tại xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H). Một tu n sau, S nói bà T1 c n tiền để chi phí cảm ơn người xét duyệt nên b T1 đưa thêm cho S 5 000 000 đồng

Khoảng tháng 7/2021, Trương Thị S biết đư c th ng tin tại khu vực thôn N, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H) c đ t đấu giá đất Cũng như những l n trước, S n i dối với b T1 về việc c khả n ng xin mua đư c đất đấu giá với giá thấp, chi phí một thửa đất l 75 000 000 đồng Tin tưởng S, nên bà T1 và ông V1 đưa cho S 150 000 000 đồng để nhờ S l m thủ tục mua 02 thửa đất v kèm theo 01 bộ hồ sơ mua đất đấu giá lấy th ng tin của v chồng ng Nguyễn Hữu H7, bà Lê Thị Thanh H8, trú tại xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, thành phố H).

Sau khi nhận tiền, S kh ng thực hiện l m thủ tục cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, xin mua đất cho b T1, ông V1 như đã h a hẹn m sử dụng trả n v chi tiêu cá nhân Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của v chồng b Nguyễn Thị T1, ông Lê Đ ng V1 số tiền 266 000 000 đồng Hiện nay, Trương Thị S đã tác động với chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho b T1, ông V số tiền 70 500 000 đồng, còn lại 195 500 000 đồng b T1, ông V yêu c u S tiếp tục bồi thường

3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng của ông Nguyễn Hồng L1, sinh năm 1981, trú tại th n B, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay là xã T, thành phố H):

V o n m 2021, ng Nguyễn Hồng L1 c nhu c u mua đất cấp thuộc diện xen dắm cho cháu l ng Nguyễn V n N1, trú tại th n B, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H), nên đã đặt vấn đề nhờ Trương Thị S t m hiểu v l m thủ tục Lúc n y, S n i dối với ng L1 l m nh c quan hệ c thể mua đư c đất cấp tại xã T với chi phí 200 000 000 đồng/1 thửa đất Tin tưởng S, nên ông L1 đã đưa 200 000 000 đồng cho S v đơn xin mua đất cấp đ ng tên ng Nguyễn V n N1 Sau khi nhận tiền, S sử dụng trả n v chi tiêu cá nhân m kh ng l m thủ tục g để mua đất cấp như đã h a hẹn với ng L1.

Đến tháng 6/2023, biết đư c ng Nguyễn Hồng L1 c nhu c u mua thửa đất số 21, tờ bản đồ số 04, thuộc th n B, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh - nay là xã T, th nh phố H (bên cạnh xưởng sản xuất inox của ng L1) để mở rộng xưởng sản xuất nên Trương Thị S n i dối với ng L1 là S đã mua thửa đất n y từ người khác v đang l m thủ tục sang tên, còn thiếu một ít tiền (thực chất thửa đất n y đang do UBND xã T quản lý) Tin tưởng S, nên ông L1 h i mua thửa đất trên, th S đồng ý bán với giá 705 000 000 đồng, trả trước 700 000 000 đồng v h a hẹn 7-10 ng y sẽ ho n th nh thủ tục sang tên cho ng L1 Để tạo lòng tin, Trương Thị S đã l m giấy cam kết v khẳng định thửa đất số 21, tờ bản đồ số 04, thuộc thôn B, xã T l của S Theo th a thuận mua bán, ng L1 đưa cho S 500 000 000 đồng (gồm: ng y 13/6/2023 l 270 000 000 đồng v ng y 21/6/2023 l 230 000 000 đồng), số còn lại đư c lấy từ số tiền 200 000 000 đồng m S nhận của ng L1 để mua đất cấp trước đ Sau khi nhận 500 000 000 đồng, S kh ng thực hiện l m thủ tục mua bán đất cho ng L1 như đã h a hẹn m sử dụng trả n v chi tiêu cá nhân.

Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của ng Nguyễn Hồng L1 tổng số tiền 700 000 000 đồng Hiện nay, S đã tác động với chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho ng L1 số tiền 185 000 000 đồng, ng L1 yêu c u S tiếp tục bồi thường số tiền 515 000 000 đồng

4. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 75.000.000 đồng của bà Bùi Thị H2, sinh năm 1973, trú tại th n H, xã N, huyện T, tỉnh H Tĩnh:

V chồng b Bùi Thị H2 và ông Nguyễn Tất N2 c thửa đất thuộc thôn H, xã N, huyện T, tỉnh H Tĩnh, đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất từ n m 1999 (l thửa đất gia đ nh đang sinh sống) Do diện tích trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đư c cấp nh hơn so với diện tích thực tế đang sử dụng, nên khoảng tháng 12/2021 b Bùi Thị H2 đặt vấn đề nhờ Trương Thị S l m thủ tục điều chỉnh diện tích đất v h p th c h a thêm ph n diện tích đất hoang h a đang sử dụng v o thửa đất của b H2. Trương Thị S n i dối với b H2 về việc S c khả n ng l m đư c các thủ tục v thống nhất chi phí l 75 000 000 đồng Tin tưởng S, nên bà H2 đã đưa cho S 07 l n với tổng số tiền l 75 000 000 đồng Cụ thể:

- Ngày 07/12/2021, bà Bùi Thị H2 đưa tiền mặt cho Trương Thị S số tiền 5 000 000 đồng tại UBND xã T, huyện T (cũ)

- Ngày 14/12/2021 và ngày 23/12/2021, bà Bùi Thị H2 đưa tiền mặt cho Trương Thị S 02 l n tại nh b H2 với tổng số tiền 40 000 000 đồng (ng y 14/12/2021 số tiền 30 000 000 đồng v ng y 23/12/2021 số tiền 10 000 000 đồng)

- Vào các ngày 24/01/2022, 11/3/2022 và ngày 21/7/2022, bà Bùi Thị H2 đưa tiền mặt cho Trương Thị S 03 l n với tổng số tiền 30 000 000 đồng (mỗi l n 10 000 000 đồng)

Ngày 23/10/2022, S n i dối với b H2 đã l m xong hồ sơ v yêu c u b H2 đưa giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho S để ho n thiện thủ tục, nên b H2 đã giao cho S 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BS 593920, mang tên Nguyễn Tất N2 và Bùi Thị H2. Tuy nhiên, S kh ng nộp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho cơ quan c thẩm quyền m đưa cho b Phan Thị I (sinh n m 1974, trú tại: X m L, xã T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh) để l m tin do trước đ S c vay mư n tiền của b I nhiều l n, hiện còn n b I số tiền 451 000 000 chưa trả Việc S đưa giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho b I thì bà H2 kh ng biết và bà I cũng kh ng biết nguồn gốc giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất trên do đâu m c , kh ng biết S c h nh vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của b H2 Hiện nay, bà Phan Thị I đã tự nguyện giao nộp v Cơ quan điều tra đã trả lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất trên cho b Bùi Thị H2.

Sau khi nhận tiền, S kh ng thực hiện l m thủ tục điều chỉnh diện tích đất cho bà H2 như đã h a hẹn m sử dụng trả n v chi tiêu cá nhân Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của b Bùi Thị H2 tổng số tiền 75 000 000 đồng Hiện nay, S đã tác động với chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho b H2 số tiền 20 000 000 đồng, b H2 yêu c u S tiếp tục bồi thường 55 000 000 đồng

5. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 162.000.000 đồng của ông Dương V n C, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H):

Gia đ nh ng Dương V n C c 02 thửa đất chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất do gặp vướng mắc hồ sơ pháp lý, gồm: thửa số 758, tờ bản đồ số 06, loại bản đồ 371 v thửa số 761, tờ bản đồ số 06, loại bản đồ 371 đều thuộc th n T, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H) Khoảng tháng 6/2022, ông C đặt vấn đề nhờ S l m giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất n y th S đồng ý v thống nhất chi phí l 222 000 000 đồng, h a hẹn trong thời hạn 02 tháng sẽ c giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất Tin tưởng S, nên ông C đã đưa cho S 03 l n với tổng số tiền l 222 000 000 đồng Cụ thể:

- L n 1: Khoảng giữa tháng 6/2022, ng Dương V n C đưa cho Trương Thị S số tiền 97 000 000 đồng tại UBND huyện T.

- L n 2: Ng y 24/6/2022, ng Dương V n C đưa cho Trương Thị S số tiền 97 000 000 đồng tại UBND huyện T.

- L n th 3: V o cuối tháng 6/2022, ng Dương V n C đưa tiếp cho Trương Thị S số tiền 28 000 000 đồng tại UBND huyện T.

Ngoài ra, Trương Thị S còn yêu c u ng Dương V n C đưa cho S bản ph t tờ bản đồ của 02 thửa đất, sổ hộ khẩu v c n cước c ng dân của v chồng ng C để l m hồ sơ, thủ tục

Đến thời hạn cam kết, ng Dương V n C vẫn kh ng đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất nên nhiều l n thúc giục th S n i dối thủ tục giấy tờ đã nộp, chờ ký nữa l đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, nhưng sau đ vẫn kh ng c kết quả, nên ng Dương V n C đã yêu c u S trả lại tiền, th ng y 31/10/2023 S trả lại cho ng C 60 000 000 đồng, còn 162 000 000 đồng th S kh ng c khả n ng trả lại cho ng C.

Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của ng Dương V n C tổng số tiền 162 000 000 đồng Hiện nay, S đã tác động với chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho ng C số tiền 43 000 000 đồng, ng C yêu c u S tiếp tục bồi thường 119 000 000 đồng

6. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 137.000.000 đồng của ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1969, trú tại thôn B - Nh N, xã L, huyện T, tỉnh H Tĩnh:

Ông Nguyễn Hữu Q c 02 thửa đất ruộng l thửa đất số 283 v thửa đất số 439, tờ bản đồ số 15 thuộc thôn B, xã L, huyện T, tỉnh H Tĩnh thuộc diện thu hồi trong dự án xây dựng Trại tạm giam C ng an tỉnh H. Tuy nhiên, ông Q chỉ mới đư c đền bù thửa đất số 283, còn thửa đất số 439 do c sai s t th ng tin nên chưa nhận đư c tiền đền bù V o đ u tháng 5/2023, ng Nguyễn Hữu Q đến UBND huyện T l m thủ tục kiến nghị về nội dung trên th gặp Trương Thị S. Ông Q trao đổi với S, thì S n i dối m nh l cán bộ địa chính UBND th nh phố H, c khả n ng giúp ng Q cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất mới để nhận đư c tiền đền bù, nên ng Q đã đưa cho S bản ph t giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất v đơn kiến nghị Khoảng 4 - 5 ngày sau, S gọi điện thoại cho ng Q trao đổi về chi phí sửa sai giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất v hẹn đến cuối tháng 5/2023 sẽ l m xong Tin tưởng S, nên từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023, ông Nguyễn Hữu Q đã nhiều l n đưa cho S với tổng số tiền 137 000 000 đồng Cụ thể:

- Khoảng ng y 11 - 12/5/2023, ông Nguyễn Hữu Q đến UBND huyện T gặp v đưa cho Trương Thị S 13 000 000 đồng, S cam kết đến ng y 30/5/2023 sẽ l m xong thủ tục đất đai cho ng Q.

- Đ u tháng 6/2023, Trương Thị S n i dối ng Nguyễn Hữu Q về việc chi phí l m thủ tục đất đai vẫn chưa đủ, đề nghị ng Q đưa thêm 20 000 000 đồng, nên ông Q đã đến UBND huyện T đưa cho S 20 000 000 đồng

- Từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2023, Trương Thị S nhiều l n n i dối ng Nguyễn Hữu Q l đã nộp hồ sơ, c n thêm tiền để đưa cho người khác l m thủ tục, nên Q đã đưa tiền mặt cho S nhiều l n, mỗi l n từ 3 000 000 đồng đến 10 000 000 đồng với tổng số tiền l 44 000 000 đồng tại sân UBND huyện T.

- Vào tháng 9/2023, Trương Thị S n i với ng Nguyễn Hữu Q l c n thêm 60 000 000 đồng, đồng thời đề nghị ng Q đưa bản gốc giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất để S tr nh ký v cam kết ng Q sẽ đư c nhận tổng số tiền 207 000 000 đồng (gồm 70 000 000 đồng tiền đền bù thửa đất v to n bộ số tiền 137 000 000 đồng đã đưa cho S) Tin tưởng S, nên ông Nguyễn Hữu Q đã đưa tiếp cho S 60 000 000 đồng v 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BR606164, mang tên Nguyễn Hữu Q và Nguyễn Thị M Sau khi nhận tiền, Trương Thị S đã đưa ng Nguyễn Hữu Q đến UBND huyện T n i dối l để nhận tiền đền bù đất v giả vờ nghe điện thoại rồi báo lại ng Q l lãnh đạo đi vắng nên chưa nhận đư c tiền Những l n khác, S hẹn ng Q đến UBND huyện T để nhận tiền hoặc ở nh để c bộ phận bồi thường giải ph ng mặt bằng đến trả tiền đền bù đất nhưng sau đ S đều đưa ra lý do khác nhau chưa nhận đư c tiền

Đối với giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất mang tên ng Nguyễn Hữu Q và bà Nguyễn Thị M, Trương Thị S đã kh ng nộp cho cơ quan c thẩm quyền để l m thủ tục cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất như h a hẹn m đưa cho bà Phan Thị X để l m tin do trước đ S c vay mư n tiền của b X nhưng chưa trả hết Việc S đưa giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho b X thì ông Q không biết v b X cũng kh ng biết nguồn gốc giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất do đâu m c , kh ng biết S c h nh vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Q Hiện nay, bà Phan Thị X đã tự nguyện giao nộp v Cơ quan điều tra đã trả lại cho ng Nguyễn Hữu Q.

Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của ng Nguyễn Hữu Q tổng số tiền 137 000 000 đồng Hiện nay, S đã tác động với chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho ông Q số tiền 36 300 000 đồng, ng Q yêu c u S tiếp tục bồi thường số tiền 100 700 000 đồng

7. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 228.500.000 đồng của ông Tr n Bá H3, sinh năm 1983, trú tại th n T, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H):

Khoảng tháng 8/2023, ng Tr n Bá H3 c nhu c u chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu n m sang đất ở đối với thửa đất số 149, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại th n T, xã T, huyện T (nay l xã T, th nh phố H), c diện tích 3842,7 m2 (đất ở: 200 m2, đất trồng cây lâu n m: 3642,7m2) l nơi bố mẹ của ng H3 (ông Tr n Bá V3 và bà Phan Thị T4) đang sinh sống Ông Tr n Bá H3 là đồng nghiệp của ng Bùi V n V (chồng S) nên ông H3 n i với ng V về nhu c u chuyển đổi mục đích sử dụng đất v muốn nhờ S l m giúp Sau đ , ng V đã gọi điện thoại cho ng Tr n Thanh H9 (cán bộ phòng T i nguyên v m i trường huyện T) để h i giúp ng Tr n Bá H3 th đư c hướng dẫn nộp hồ sơ lên bộ phận địa chính UBND xã T, nếu c g thắc mắc th ng Tr n Thanh H9 sẽ hướng dẫn sau.

Đến tháng 9/2023, ng Tr n Bá H3 nhờ Trương Thị S và ông Bùi V n V đưa đến nhà ông Tr n Thanh H9 ở xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh Tại đây, ng Tr n Thanh H9 giải thích cho ng Tr n Bá H3 về quy tr nh, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đối với thửa đất của bố mẹ ng Tr n Bá H3 theo đúng quy định của pháp luật Sau đ , ng Tr n Bá H3 n i với S l muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với cả ph n diện tích ngo i hạn m c v đặt vấn đề nhờ Sen l m hồ sơ, thủ tục, th S đồng ý Tin tưởng S, nên ông Tr n Bá H3 đã đưa tiền cho S nhiều l n với tổng số tiền l 228 500 000 đồng Cụ thể:

- Ngày 18/9/2023, Trương Thị S gọi điện thoại n i ng Tr n Bá H3 chuyển cho S số tiền 6 000 000 đồng để chi phí l m hồ sơ ở cấp xã Tin lời S, nên ông H3 sử dụng t i khoản số 1807838383 Ngân hàng T8 của m nh chuyển đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S số tiền 6 000 000 đồng

- Ngày 20/9/2023, Trương Thị S nói ông Tr n Bá H3 đưa giấy ch ng nhận quyền sử dụng thửa đất (bản gốc) v số tiền 70 000 000 đồng để S l m to n bộ thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất Cùng ng y, ng H3 sử dụng t i khoản số 1807838383 Ngân hàng T8 của m nh chuyển v o t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S số tiền 35 000 000 đồng, số tiền còn lại sẽ chuyển khoản cho S sau v thời điểm đ ng H3 chưa đủ tiền Đồng thời, ng Tr n Bá H3 đã đưa cho S 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng thửa đất số 149, tờ bản đồ số 21

- Ngày 21/9/2023, Trương Thị S gọi điện thoại cho ng Tr n Bá H3 n i số tiền ng H3 chuyển vẫn chưa đủ v yêu c u ng H3 chuyển thêm 60 000 000 đồng Cùng ng y, ng Tr n Bá H3 chuyển số tiền 60 000 000 đồng từ t i khoản số 3709668111678 Ngân h ng A mang tên Tr n Bá H3 đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S.

- Ngày 22/9/2023, Trương Thị S gọi điện thoại n i dối với ng Tr n Bá H3 c n tiền để chi phí cảm ơn nên ng H3 đã chuyển số tiền 77 500 000 đồng từ t i khoản số 1807838383 Ngân hàng T8 của ng H3 đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S.

- Ngày 29/9/2023, Trương Thị S tiếp tục gọi điện n i ng Tr n Bá H3 chuyển thêm số tiền 110 000 000 đồng để ho n th nh thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất Lúc n y, ng H3 n i l chỉ c 50 000 000 đồng, nếu nộp thêm tiền th ng H3 kh ng l m thủ tục chuyển đổi đất nữa v xin rút tiền, th S đồng ý. Cùng ngày, ông H3 chuyển số tiền 50 000 000 đồng từ t i khoản số 1807838383 Ngân hàng T8 mang tên Tr n Bá H3 đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S.

Sau khi nhận tiền, Trương Thị S kh ng l m bất kỳ thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất như đã h a hẹn, m sử dụng v o việc trả n v chi tiêu cá nhân, còn giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất của ng H3 thì S cất giữ tại nh Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của ng Tr n Bá H3 tổng số tiền 228 500 000 đồng Hiện nay, S đã bồi thường to n bộ số tiền chiếm đoạt v trả lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho ng H3, ông H3 kh ng yêu c u g thêm

8. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 51.200.000 đồng của bà Tr n Thị V2, sinh năm 1957, trú thôn T, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh (nay l xã T, th nh phố H):

Gia đ nh b Tr n Thị V2 c 02 thửa ở th n T, xã T, huyện T (nay l xã T, th nh phố H), gồm: Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 21, c diện tích 233 m2 (đất ở 183m2, đất trồng cây lâu n m l 50m2), l thửa đất gia đ nh b V2 đang sinh sống v thửa đất số 302, tờ bản đồ số 21, c diện tích 200 m2 (đất ở 150m2, đất trồng cây lâu n m l 50m2), mang tên ông Ho ng Trọng T3, sinh n m 1991 (con trai b V2) Khoảng tháng 9/2023, do biết ng Tr n Bá H3 đang nhờ Trương Thị S chuyển đổi mục đích sử dụng đất nên b V2 n i với ng H3 đặt vấn đề nhờ S chuyển đổi mục đích sử dụng ph n đất trồng cây lâu n m của 02 thửa đất n i trên th nh đất ở Ng y 18/9/2023, ng H3 đã đưa S đến nh b V2 để hai bên trực tiếp thống nhất với nhau Tại nh b V2, ngoài S, ông H3 và bà V2 còn có ông Hoàng Trọng T5 (sinh n m 1986, trú tại thôn T, xã T - l con trai cả của b V2) Tại đây, bà V2 đã đưa 02 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất cho Trương Thị S xem v n i c nhu c u chuyển đổi đư c hết ph n diện tích đất trồng cây lâu n m của 02 thửa đất sang đất ở Lúc n y, S gọi điện thoại h i ng Tr n Thanh H9 tham khảo giá đất nhằm mục đích tạo lòng tin cho b V2 Sau đ , S n i dối l S l m đư c thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất của 02 thửa v yêu c u b V2 cung cấp bản ph t 02 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất v bản ph t c n cước c ng dân của chủ đất cho S Khoảng hai ng y sau, ng Ho ng Trọng T5 gọi điện thoại cho S nhờ S giúp l m thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng 02 thửa đất trên, thì S đồng ý v n i ng T5 phải chi phí khoảng 50 000 000 - 60.000.000 đồng, hai bên th a thuận sẽ đưa trước số tiền 50 000 000 đồng Sau đ , ng T5 đi xuất khẩu lao động tại Malaysia nên b V2 l người liên lạc, trao đổi với S.

Ngày 25/9/2023, Trương Thị S gọi điện thoại hẹn gặp b Tr n Thị V2 tại UBND huyện T Tại đây, S giới thiệu l m việc tại Sở T i nguyên v M i trường tỉnh H, hiện đang c mặt tại UBND huyện T để l m hồ sơ, thủ tục cho b V2 và nói bà V2 đưa tiền cho S Tin tưởng S, nên bà V2 đã đưa cho S 30 000 000 đồng tiền mặt v nhờ ng Ho ng Trọng T3 (con trai bà V2) chuyển số tiền 10 000 000 đồng từ t i khoản số 0919348259 Ngân hàng M1 của ng T3 đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S Đồng thời, b V2 đưa cho S 02 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc), S h a hẹn khoảng 15 đến 20 ng y sẽ xong thủ tục Đến ng y 29/9/2023, ng Ho ng Trọng T3 tiếp tục chuyển số tiền 10 000 000 đồng từ t i khoản số 0919348259 Ngân hàng M1 của ng T3 đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S để đủ số tiền 50 000 000 đồng như th a thuận ban đ u

Ngày 12/10/2023, Trương Thị S gọi điện thoại cho ng Ho ng Trọng T3 n i dối S đang ở UBND xã T để l m hồ sơ cho b V2, c n số tiền 1 200 000 đồng để chi phí cảm ơn người xét duyệt nên ng T3 đã chuyển số tiền 1 200 000 đồng từ t i khoản số 0919348259 Ngân hàng M1 của ng T3 đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S.

Sau khi nhận tiền, Trương Thị S kh ng l m bất kỳ thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất như đã h a hẹn, m sử dụng v o việc trả n v chi tiêu cá nhân hết, còn 02 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất của b V2 thì S cất giữ tại nh Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của b Tr n Thị V2 tổng số tiền 51 200 000 đồng Hiện nay, S đã bồi thường to n bộ số tiền đã chiếm đoạt v trả lại 02 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho b V2, bà V2 kh ng yêu c u g thêm.

9. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng của bà Tr n Thị T2, sinh năm 1967, trú tại khối phố Y, phường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh; địa chỉ liên hệ: Số nh B, ngõ B, đường V, phường T, th nh phố H:

V chồng b Tr n Thị T2 và ông Trương Quang L2 sinh sống trên thửa đất thuộc khối phố Y, phường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh Do c nhu c u h p th c h a nhập thửa đất hoang h a phía trước nh v o đất nh m nh, nên tháng 3/2024 bà T2 đã đặt vấn đề nhờ Trương Thị S làm giúp, thì S đồng ý Tin tưởng S, nên bà T2 04 l n đưa tổng số tiền l 20 000 000 đồng cho S Cụ thể:

- L n 1: Khoảng tháng 3/2024, b Tr n Thị T2 đã đưa cho Trương Thị S 5 000 000 đồng tiền mặt tại nh b T2.

- L n 2: Ngày 02/4/2024, bà Tr n Thị T2 sử dụng t i khoản số 5200976323 Ngân hàng B của b T2 chuyển số tiền 5 000 000 đồng đến t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S.

- L n 3: Ng y 04/4/2024, Trương Thị S đến nh b Tr n Thị T2 nói bà T2 đưa thêm 5 000 000 đồng v giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất để S ho n tất hồ sơ, thủ tục Nên b T2 đã đưa cho S 5 000 000 đồng v 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số BT 053426, mang tên Trương Quang L2 và Tr n Thị T2.

- L n 4: Ng y 12/4/2024, Trương Thị S gọi điện thoại n i b Tr n Thị T2 chuyển thêm tiền, nên ng Trương Quang L2 (chồng b T2) đã chuyển số tiền 5.000.000 đồng từ t i khoản số 5202232702 Ngân h ng B mang tên Trương Quang L2 v o t i khoản số 0201000614355 Ngân hàng V4 của S.

Đối với giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất mang tên b Tr n Thị T2 và ông Trương Quang L2, S đã kh ng nộp cho cơ quan c thẩm quyền để l m thủ tục h p th c h a thửa đất như h a hẹn m đưa cho b Phan Thị I để l m tin do trước đ S c vay mư n tiền của b I nhưng chưa trả hết Việc S đưa giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho b I thì bà T2 kh ng biết v b I cũng kh ng biết nguồn gốc giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất do đâu m c , kh ng biết S có h nh vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của b T2 Hiện nay, b Phan Thị I đã tự nguyện giao nộp v Cơ quan điều tra đã trả lại cho b Tr n Thị T2.

Sau khi nhận tiền, S kh ng thực hiện l m thủ tục h p th c h a thửa đất cho bà T2 như đã h a hẹn m sử dụng trả n v chi tiêu cá nhân Như vậy, Trương Thị S đã lừa đảo chiếm đoạt của b Tr n Thị T2 tổng số tiền 20 000 000 đồng Hiện nay, S đã tác động với chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho bà T2 số tiền 10 000 000 đồng, b T2 yêu c u S tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 10 000 000 đồng

Vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ:

- Bị cáo Trương Thị S giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, m u xanh, số IMEI: 357732107455856, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0975927558; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy J4core, m u v ng đồng, số IMEI 1: 353793013179951, IMEI 2: 353794103179959, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0949802787

- Khám xét chỗ ở của bị cáo Trương Thị S thu giữ: 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Phạm Thị T6; 01 (một) bản ph t sổ hộ khẩu v 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Dương V n C; 01 (một) bản ph t quyết định về việc tr cấp đối với thân nhân của người c c ng với cách mạng từ tr n số 1686/QĐ-SLĐTBXH ng y 17/3/2020, 01 (một) sơ đồ thửa đất số 251, tờ bản đồ số 11 ng y 22/5/2020 v 01 (một) bản ph t biên bản họp mặt gia đ nh ng y 24/10/2007 của b Trương Thị T7.

- Bà Phan Thị I giao nộp: 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BS 593920, mang tên Nguyễn Tất N2 và Bùi Thị H2; 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BT 053426, mang tên Trương Quang L2 và Tr n Thị T2; 01 (một) giấy xin trả gốc h ng tháng (bản ph t ), 01 (một) giấy vay tiền (bản phô tô).

- Bà Phan Thị X giao nộp: 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: H788754, mang tên Trương Quang H6; 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BR 606164, mang tên Nguyễn Hữu Q và Nguyễn Thị M; 01 (một) giấy ch ng minh nhân dân mang tên Trương Quang H6; 01 (một) giấy mư n tiền (bản phô tô).

Quá tr nh điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý h p pháp các đồ vật, t i liệu gồm: Trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BS 593920, mang tên Nguyễn Tất N2 và Bùi Thị H2 cho bà Bùi Thị H2; trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BT 053426, mang tên Trương Quang L2 và Tr n Thị T2 cho bà Tr n Thị T2; trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: H788754, mang tên Trương Quang H6 và 01 (một) giấy ch ng minh nhân dân mang tên Trương Quang H6 cho bà Nguyễn Thị H1; trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BR606164, mang tên Nguyễn Hữu Q và Nguyễn Thị M cho ông Nguyễn Hữu Q 02 chiếc điện thoại di động của Trương Thị S chuyển đến Cục Thi h nh án dân sự tỉnh H Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật; các giấy tờ, t i liệu còn lại đư c đưa v o hồ sơ vụ án.

Với h nh vi trên, tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-P2, ngày 13 tháng 01 n m 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Tĩnh đã truy tố bị cáo Trương Thị S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật H nh sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá tính chất, m c độ h nh vi phạm tội, các t nh tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự cũng như nhân thân của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”

2 Về h nh phạt: C n c điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo Trương Thị S từ 12 đến 13 n m tù, thời hạn tù tính từ ng y 23/4/2024

3 Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử c n c Điều 48 Bộ luật H nh sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Trương Thị S phải bồi thường cho 07 bị hại với tổng số tiền 1.103.200.000 đồng (Một tỷ một trăm linh ba triệu hai trăm nghìn đồng), cụ thể: Bồi thường cho b Nguyễn Thị H1 số tiền 108 000 000 đồng, b Nguyễn Thị T1 và ông Lê Đ ng V1 số tiền 195 500 000 đồng, ng Nguyễn Hồng L1 số tiền 515 000 000 đồng, b Bùi Thị H2 số tiền 55 000 000 đồng, ng Dương V n C số tiền 119 000 000 đồng, ng Nguyễn Hữu Q số tiền 100 700 000 đồng, b Tr n Thị T2 số tiền 10 000 000 đồng

* Xử lý vật ch ng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật h nh sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự:

- Tịch thu sung c ng quỹ Nh nước: 02 chiếc điện thoại di động của bị cáo Trương Thị S gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, m u xanh, số IMEI: 357732107455856, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0975927558; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy J4core, m u v ng đồng, số IMEI 1: 353793013179951, IMEI 2: 353794103179959, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0949802787.

- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Phạm Thị T6; 01 (một) bản ph t sổ hộ khẩu v 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Dương V n C; 01 (một) bản ph t quyết định về việc tr cấp đối với thân nhân của người c c ng với cách mạng từ tr n số 1686/QĐ-SLĐTBXH ng y 17/3/2020, 01 (một) sơ đồ thửa đất số 251, tờ bản đồ số 11 ng y 22/5/2020 v 01 (một) bản ph t biên bản họp mặt gia đ nh ng y 24/10/2007 của b Trương Thị T7; 01 (một) giấy xin trả gốc h ng tháng (bản ph t ), 01 (một) giấy vay tiền (bản ph t ); 01 (một) giấy mư n tiền (bản ph t )

Ngo i ra còn đề nghị tuyên về án phí v quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận to n bộ h nh vi m bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng, bị cáo kh ng c ý kiến tranh luận g v xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đư c hưởng m c án thấp nhất để bị cáo c cơ hội đư c sửa chữa, khắc phục lỗi l m của m nh

- Luật sư b o chữa cho bị cáo Trương Thị S đề nghị Hội đồng xét xử xem cho bị cáo đư c hưởng m c thấp nhất v bị cáo c nhiều t nh tiết giảm nhẹ; đã bồi thường một ph n thiệt hại cho các bị hại, th nh khẩn khai báo

- Những người bị hại yêu c u bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại v đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật

NH N ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n c v o các t i liệu c trong hồ sơ vụ án đã đư c tr ng tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an huyện T, C ng an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch H , Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng h nh sự Quá tr nh điều tra v tại phiên tòa, bị cáo v những người tham gia tố tụng kh ng c ý kiến hay khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng Do đ , các h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều h p pháp

Tại phiên tòa vắng mặt một số người bị hại, người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan v những người l m ch ng Xét thấy, việc vắng mặt những người n y kh ng ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo Ngo i ra, trong quá tr nh điều tra những người n y đã c lời khai đ y đủ C n c Điều 292 v Điều 293 Bộ luật Tố tụng h nh sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những n y

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận tất cả các h nh vi cũng như cách th c thực hiện tội phạm của m nh đúng như bản Cáo trạng đã nêu Lời khai nhận tội của bị cáo phù h p với lời khai của những người bị hại, người c quyền l i v nghĩa vụ liên quan, người l m ch ng, phù h p với các t i liệu, lời khai v các ch ng c khác c trong hồ sơ vụ án Do đ , Hội đồng xét xử c đủ cơ sở để khẳng định:

Do l m n bị thua lỗ, dẫn đến n n n, nên trong khoảng thời gian từ n m 2019 đến ng y 12/4/2024 bị cáo Trương Thị S đã đưa ra th ng tin gian dối như: Tự nhận m nh l cán bộ Sở T i nguyên m i trường hoặc cơ quan Nh nước c khả n ng l m thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu n m sang đất ở, l m lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, c ng nhận lại diện tích đất ở, t ng diện tích đất ở, l m thủ tục cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất; c khả n ng xin mua đất cấp, mua đất bán đấu giá với giá rẻ, để những người bị hại tin tưởng đưa tiền cho bị cáo rồi chiếm đoạt tổng số tiền 1 786 700 000 đồng của 09 người bị hại trên địa b n tỉnh H Tĩnh, gồm: B Nguyễn Thị H1 (trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 147 000 000 đồng; v chồng b Nguyễn Thị T1, ông Lê Đ ng V1 (trú tại th n K, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 266 000 000 đồng; ng Nguyễn Hồng L1 (trú tại th n B, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 700 000 000 đồng; b Bùi Thị H2 (trú tại th n H, xã N, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 75 000 000 đồng; ng Dương V n C (trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 162 000 000 đồng; ông Nguyễn Hữu Q (trú tại th n B, xã L, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 137 000 000 đồng; ng Tr n Bá H3 (trú tại th n T, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 228 500 000 đồng; b Tr n Thị V2 (trú th n T, xã T, huyện T, tỉnh H Tĩnh) số tiền 51 200 000 đồng v b Tr n Thị T2 (trú tại khối phố Y, phường T, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh) số tiền 20 000 000 đồng Sau khi nhận tiền, bị cáo Trương Thị S kh ng l m hồ sơ, thủ tục về đất đai như đã h a hẹn cho những người bị hại m chiếm đoạt số tiền trên để sử dụng trả n v tư l i cá nhân

[3] Bị cáo l người c đ y đủ n ng lực h nh vi, n ng lực pháp luật Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, dù nhận th c đư c h nh vi của m nh l vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng v mục đích muốn c tiền trả n , tư l i cá nhân nên vẫn cố t nh thực hiện h nh vi phạm tội Bị cáo Trương Thị S đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra các th ng tin sai sự thật để các bị hại tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo; H nh vi của bị cáo Trương Thị S đã đủ các yếu tố cấu th nh tội: “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản” V vậy, Cáo trạng số 08/CT-VKS-P2, ngày 13 tháng 01 n m 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Tĩnh đã truy tố bị cáo Trương Thị S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật H nh sự l c c n c , đúng người, đúng tội, kh ng oan sai

[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trương Thị S phải chịu t nh tiết t ng nặng trách nhiệm h nh sự: Phạm tội 02 l n trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sự

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá tr nh điều tra, truy tố v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai báo, n n n hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường v tác động chồng l ng Bùi V n V bồi thường một ph n trách nhiệm dân sự cho người bị hại với tổng số tiền 683 500 000 đồng; gia đ nh bị cáo l người c c ng với cách mạng (bố đẻ của bị cáo là ông Trương Xuân H10 đư c tặng Huân chương Chiến c ng giải ph ng, Huân chương Chiến sĩ giải ph ng v Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba v nhiều Bằng khen, Giấy khen) Ngo i ra ở thời điểm phạm tội bị cáo c chồng l ông Bùi V n V đang phục vụ trong Quân đội đư c tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nh , Ba, c bố chồng l ng Bùi V n P đư c tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huy chương kháng chiến hạng Nh , Huy hiệu 55 n m tuổi Đảng Do đ bị cáo đư c hưởng các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự đư c quy định tại điểm s khoản 1 v khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự

[5] Về quyết định hình phạt: C n c v o tính chất m c độ h nh vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các t nh tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm mà bị cáo đư c hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy: H nh vi phạm tội của bị cáo l đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu t i sản của người khác đư c pháp luật bảo vệ, gây kh kh n về kinh tế cho những người bị hại, gây mất trật tự trị an trên địa b n, gây dư luận xấu trong qu n chúng nhân dân Do đ c n phải xét xử bị cáo m c án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ s c cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời c tác dụng r n đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội, nhất l trong thời điểm hiện nay loại tội phạm n y đang c chiều hướng gia t ng Tuy nhiên bị cáo c nhiều t nh tiết giảm nhẹ nên cũng c n xem xét giảm nhẹ một ph n h nh phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá tr nh điều tra bị cáo đã trả lại Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất v trả lại cho người bị hại l ng Tr n Bá H3 số tiền 228 500 000 đồng, b Tr n Thị V2 số tiền 51 200 000 đồng Hiện nay ng Tr n Bá H3, bà Tr n Thị V2 kh ng c yêu c u g về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nay còn lại 07 người bị hại trong vụ án yêu c u bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại bị chiếm đoạt chưa bồi thường l 1 103 200 000 đồng (Một tỷ một tr m linh ba triệu hai tr m ngh n đồng) Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận số tiền n y l số tiền m bị cáo thực hiện h nh vi lừa đảo đối với những người bị hại, việc yêu c u của những người bị hại l c cơ sở nên c n áp dụng Điều 48 Bộ luật H nh sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu c u của những người bị hại, buộc bị cáo phải trả cho buộc bị cáo Trương Thị S phải bồi thường cho 07 người bị hại với tổng số tiền 1 103 200 000 đồng (Một tỷ một tr m linh ba triệu hai tr m ngh n đồng), cụ thể: Bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 108 000 000 đồng, b Nguyễn Thị T1 và ông Lê Đ ng V1 số tiền 195 500 000 đồng, ng Nguyễn Hồng L1 số tiền 515 000 000 đồng, b Bùi Thị H2 số tiền 55 000 000 đồng, ng Dương V n C số tiền 119.000.000 đồng, ng Nguyễn Hữu Q số tiền 100 700 000 đồng, b Tr n Thị T2 số tiền 10 000 000 đồng

[7] Việc ng Bùi V n V (chồng của bị cáo) đã bồi thường cho những người bị hại: Trong giai đoạn truy tố bị cáo đã tác động chồng l ng Bùi V n V bồi thường cho 07 người bị hại với tổng số tiền 403 800 000 đồng (Gồm: B Nguyễn Thị H1 39 000 000 đồng, b Nguyễn Thị T1 70 500 000 đồng, ng Nguyễn Hồng L1 185 000 000 đồng, b Bùi Thị H2 20 000 000 đồng, ng Dương V n C 43 000 000 đồng, ng Nguyễn Hữu Q 36 300 000 đồng v b Tr n Thị T2 10 000 000 đồng) Nay ng Bùi V n V kh ng yêu c u bị cáo Trương Thị S phải trả lại số tiền đã bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo kh ng c nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử kh ng áp dụng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo

[9] Về xử lý vật chứng:

- Xét thấy quá tr nh điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý h p pháp các đồ vật, t i liệu gồm: Trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BS 593920, mang tên Nguyễn Tất N2 và Bùi Thị H2 cho bà Bùi Thị H2; trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BT 053426, mang tên Trương Quang L2 và Tr n Thị T2 cho bà Tr n Thị T2; trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: H788754, mang tên Trương Quang H6 v 01 (một) giấy ch ng minh nhân dân mang tên Trương Quang H6 cho bà Nguyễn Thị H1; trả 01 (một) giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BR606164, mang tên Nguyễn Hữu Q và Nguyễn Thị M cho ông Nguyễn Hữu Q l c c n c theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật H nh, sự điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh sự

- Đối với 02 chiếc điện thoại di động của bị cáo Trương Thị S gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, m u xanh, số IMEI: 357732107455856, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0975927558; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy J4core, m u v ng đồng, số IMEI 1: 353793013179951, IMEI 2: 353794103179959, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0949802787 Xét thấy đây l c ng cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện h nh vi phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật H nh sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh sự tịch thu sung quỹ nh nước

- Đối với 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Phạm Thị T6; 01 (một) bản ph t sổ hộ khẩu v 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Dương V n C; 01 (một) bản ph t quyết định về việc tr cấp đối với thân nhân của người c c ng với cách mạng từ tr n số 1686/QĐ-SLĐTBXH ng y 17/3/2020, 01 (một) sơ đồ thửa đất số 251, tờ bản đồ số 11 ng y 22/5/2020 v 01 (một) bản ph t biên bản họp mặt gia đ nh ng y 24/10/2007 của b Trương Thị T7; 01 (một) giấy xin trả gốc h ng tháng (bản ph t ), 01 (một) giấy vay tiền (bản ph t ); 01 (một) giấy mư n tiền (bản ph t ) Xét thấy các t i liệu n y c n tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án

[10] Những vấn đề khác liên quan trong vụ án:

- Quá tr nh điều tra xác định: Từ n m 2019 đến n m 2023, bị cáo Trương Thị S c vay của b Phan Thị I tổng số tiền 451 000 000 đồng, vay của b Phan Thị X số tiền 250 000 000 đồng (đã trả đư c 200 000 000 đồng còn n 50 000 000 đồng) Sau đ , b I và bà X nhiều l n đòi lại tiền nhưng chưa c trả nên S đã để lại cho b I 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BS 593920, mang tên Nguyễn Tất N2 - Bùi Thị H2 v 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số BT 053426, mang tên Trương Quang L2 - Tr n Thị T2; để lại cho b X 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: H788754 v 01 giấy ch ng minh nhân dân mang tên ông Trương Quang H6, 01 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, số: BR606164, mang tên Nguyễn Hữu Q - Nguyễn Thị M Việc S vay tiền của b I và bà X diễn ra trong thời gian d i, c vay – trả nhiều l n, kh ng c h nh vi gian dối, kh ng c ý th c chiếm đoạt, nên kh ng c dấu hiệu tội phạm B I và bà X cho S vay tiền c tính lãi, tuy nhiên kh ng c t i liệu thể hiện m c lãi vay cụ thể, nên kh ng c c n c xem xét xử lý h nh sự l phù h p

- Đối với ng Bùi V n V (chồng bị cáo Trương Thị S): Đã c h nh vi cùng với Trương Thị S giới thiệu v đưa ng Tr n Bá H3 đến gặp ng Nguyễn Thanh H4 nhờ tư vấn các thủ tục liên quan đến đất đai Sau đ , bị cáo Trương Thị S đã c h nh vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ng Tr n Bá H3 Tuy nhiên việc bị cáo Trương Thị S thực hiện h nh vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của người bị hại th ng V kh ng biết v kh ng hưởng l i g từ h nh vi phạm tội của bị cáo V vậy, ông Bùi V n V không đồng phạm với bị cáo Trương Thị S trong vụ án l c c n c theo quy định của pháp luật

- Đối với ng Nguyễn Thanh H4: Khi bị cáo Trương Thị S đưa những người bị hại đến gặp th ng H4 đã tư vấn, giải đáp các quy định, thủ tục liên quan đến đất đai đúng theo quy định của pháp luật; ng H4 kh ng biết bị cáo Trương Thị S thực hiện h nh vi lừa đảo v kh ng nhận bất c l i ích g từ h nh vi phạm tội của S V vậy, ng Nguyễn Thanh H4 kh ng đồng phạm với Trương Thị S trong vụ án m chỉ l quan hệ dân sự

- Ngo i ra, quá tr nh điều tra còn xác định bị cáo Trương Thị S c vay của bà Tr n Thị Thu H11 (sinh n m 1976, trú tại: Tổ A, phường N, th nh phố H, tỉnh H Tĩnh) tổng số tiền 928 000 000 đồng Ng y 29/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Thạch H đã c Quyết định số 08/2023/QĐST-DS c ng nhận sự th a thuận của các đương sự, Trương Thị S phải trả cho b Tr n Thị Thu H11 số tiền đã vay l 928 000 000 đồng v số tiền b H11 tạm ng án phí dân sự l 19 920 000 đồng V vậy, kh ng xem xét, giải quyết trong vụ án đối với nội dung n y l c cơ sở

[11] Về án phí: C n c Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng H nh sự; khoản 1, 3 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm v án phí dân sự c giá ngạch theo quy định

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người c quyền l i v nghĩa vụ liên quan c quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”

2. Về hình phạt: C n c điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo Trương Thị S 12 (mười hai) n m tù, thời hạn tù tính từ ng y 23/4/2024

3. Về trách nhiệm dân sự: C n c Điều 48 Bộ luật H nh sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Trương Thị S phải bồi thường cho 07 người bị hại với tổng số tiền 1 103 200 000 đồng (Một tỷ một tr m linh ba triệu hai tr m ngh n đồng), cụ thể: Bồi thường cho b Nguyễn Thị H1 số tiền 108 000 000 đồng, b Nguyễn Thị T1 và ông Lê Đ ng V1 số tiền 195 500 000 đồng, ng Nguyễn Hồng L1 số tiền 515 000 000 đồng, b Bùi Thị H2 số tiền 55 000 000 đồng, ng Dương V n C số tiền 119 000 000 đồng, ng Nguyễn Hữu Q số tiền 100 700 000 đồng, b Tr n Thị T2 số tiền 10 000 000 đồng

Kể từ ng y bản án c hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ng y c đơn yêu c u thi h nh án của người đư c thi h nh án cho đến khi thi h nh xong tất cả các khoản tiền, h ng tháng người phải thi h nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi h nh án theo m c lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự

Trường h p Bản án, Quyết định đư c thi h nh theo quy định tại Điều 2 luật Thi h nh án dân sự, th người đư c Thi h nh án dân sự, người phải Thi h nh án dân sự c quyền th a thuận Thi h nh án, quyền yêu c u thi h nh án, tự nguyện Thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6,7 v 9 luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu Thi h nh án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi h nh án dân sự

4. Về xử lý vật chứng: C n c điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật H nh sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh sự:

- Tịch thu sung c ng quỹ Nh nước: 02 chiếc điện thoại di động của bị cáo Trương Thị S gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, m u xanh, số IMEI: 357732107455856, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0975927558; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy J4core, m u v ng đồng, số IMEI 1: 353793013179951, IMEI 2: 353794103179959, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0949802787.

- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Phạm Thị T6; 01 (một) bản ph t sổ hộ khẩu v 01 (một) bản ph t thẻ c n cước c ng dân mang tên Dương V n C; 01 (một) bản ph t quyết định về việc tr cấp đối với thân nhân của người c c ng với cách mạng từ tr n số 1686/QĐ-SLĐTBXH ng y 17/3/2020, 01 (một) sơ đồ thửa đất số 251, tờ bản đồ số 11 ng y 22/5/2020 v 01 (một) bản ph t biên bản họp mặt gia đ nh ng y 24/10/2007 của b Trương Thị T7; 01 (một) giấy xin trả gốc h ng tháng (bản ph t ), 01 (một) giấy vay tiền (bản ph t ); 01 (một) giấy mư n tiền (bản ph t )

(Tình trạng, đặc điểm cụ thể các vật chứng có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 26/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh ngày 14/01/2025)

5. Về án phí: C n c Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự; khoản 1, 3 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban T9 Buộc bị cáo Trương Thị S phải nộp 200 000 đồng án phí h nh sự sơ thẩm v 45 096 000 đồng án phí dân sự trong vụ án h nh sự

6. Về quyền kháng cáo: C n c Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng H nh sự: Bị cáo, những người bị hại c mặt c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án

Những người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan c mặt c quyền kháng cáo ph n bản án c liên quan đến quyền, nghĩa vụ của m nh trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án

Những người bị hại vắng mặt c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận đư c bản án hoặc kể từ ng y bản án đư c tống đạt h p lệ

Những người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan vắng mặt c quyền kháng cáo ph n bản án c liên quan đến quyền, nghĩa vụ của m nh trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận đư c bản án hoặc kể từ ng y bản án đư c tống đạt h p lệ

Cỡ chữ