vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Phạm Tuấn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/11/2023 (là ngày bị tạm giữ trong một vụ án khác). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Th và đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 21-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Quốc Hoàng - Phó Bí thư Đoàn TNCSHCM quận Hồng Bàng

Ông Bùi Văn Khương – Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tình – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân qu n Hồng Bàng, thành ph H i Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 193/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 21/11/2003 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H và bà Đới Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 05/2025/HSST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt tù chung thân về tội Giết người (bản án chưa có hiệu lực pháp luật); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam từ ngày 08/11/2023 theo Lệnh tạm giam số 348 ngày 08/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Phạm Hải S, sinh ngày 28/01/2007 tại Hải Phòng (thời điểm phạm tội 16 tuổi, 05 tháng, 16 ngày). Nơi đăng ký thường trú: Số 4/60 phố C, phường L (nay là phường L), quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số 3/99 phố Ng, phường G, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng H và bà Hoàng Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Tại Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Phạm Hải S 06 năm tù về tội Cướp tài sản.

- Tại Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Phạm Hải S 21 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

- Tại Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Phạm Hải S 30 tháng tù tội Gây rối trật tự công cộng.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam từ ngày 17/11/2024 theo Lệnh tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; có mặt.

3. Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 25/10/2006 tại Hải Phòng (thời điểm phạm tội 16 tuổi, 08 tháng, 19 ngày). Nơi cư trú: Số 12/52/14 đường Ng, phường M, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy Th và bà Phạm Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Tại Bản hình sự phúc thẩm số 779/2024/HS-PT ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử Nguyễn Tiến Đ 06 năm tù về tội Cướp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 224/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Tiến Đ 30 tháng tù tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam từ ngày 17/11/2024 theo Lệnh tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; có mặt.

4. Phạm Tuấn Đ sinh ngày 13/6/2006 tại Hải Phòng (thời điểm phạm tội 17 tuổi, 01 tháng, 01 ngày). Nơi đăng ký thường trú: Số 256 đường M, phường D, quận LC, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Thôn B, xã Đ, huyện AD (nay là phường Đ, quận AD), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Anh T và bà Nguyễn Thị Huyền Tr; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị can hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/11/2024; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Hải S: Ông Phạm Hồng H, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ngõ 105 , phường Đ, quận Hải An, thành phố Hải Phòng và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số 4/99 phố Ng, phường G, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (là cha, mẹ đẻ của bị cáo). Ông H vắng mặt, bà L có mặt.

- Người bào chữa của các bị cáo Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ: Ông Bùi Văn Bình – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Bùi Tiến D, sinh năm 2003, địa chỉ thôn 3, xã C, huyện ThNg, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2. Anh Lê Quốc T, sinh năm 2001, địa chỉ thôn 3 xã B, huyện AD, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0h30’ ngày 14/07/2023, Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Ngọc Th, Phạm Tuấn Đ cùng với Trần Đức Vương, Đồng Quang Tú, Bùi Đức Lâm, Lê Phú Đạt, Phạm Văn Vinh, Trần Anh Đức, Vũ Văn Nghĩa, Đặng Trung Đức, Lê Minh Dũng, Trương Văn Tuấn, Đỗ Việt Đức, Nguyễn Đức Toàn và các đối tượng Nguyễn Trần Tiến Nam (sinh ngày 14/11/2007; địa chỉ số 11/14 phố Lý Tự Trọng, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng); Đồng Xuân Đức Anh (sinh ngày 14/10/2008; địa chỉ số 16/181 đường Hùng Vương, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Hữu Bình Minh (sinh ngày 06/10/2007; địa chỉ số 19/41 phố Nguyên Hồng, phường Lam Sơn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng); Đặng Anh Tuấn (sinh ngày 01/12/2007; địa chỉ thôn Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng); Phạm Gia Bảo (sinh ngày 17/07/2007; địa chỉ số 16/1/8 phố Nguyễn Tường Loan, phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Hạo Nam (sinh ngày 28/11/2007; địa chỉ số 11/11 phố Hàng Kênh, phường Trại Cau, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng); Đỗ Nguyễn Trung Kiên (sinh ngày 6/10/2007; địa chỉ số 10/17 đường Lạch Tray, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Gia Huy (sinh ngày 08/09/2007; địa chỉ số 14 đường Vạn Mỹ, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng); Cao Duy Minh (sinh ngày 06/6/2008; địa chỉ: Số 317 đường Ngô Gia Tự, phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng), tất cả tập trung tại khu vực Sân Trắng, thôn Hoàng Mai, xã Đồng Thái, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng để đi tham gia đánh nhau ở khu vực Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Các đối tượng lấy hung khí, dao, kiếm, chai thuỷ tinh tại nhà của Trịnh Đức Hoàng (sinh ngày 26/20/2007; địa chỉ số 66 An Trang, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng). Sau đó, Nguyễn Tiến Đ điều khiển xe Honda Vision chở Phạm Gia Bảo cầm giáo; Nguyễn Ngọc Th điều khiển xe Honda Airblade chở Phạm Tuấn Đ cầm kiếm, Đặng Anh Tuấn cầm ba chia; Phạm Hải S điều khiển xe Airblade chở Nguyễn Hữu Bình Minh cầm kiếm. Sau khi chia hung khí, phương tiện, các đối tượng điều khiển xe tốc độ cao, rú ga, lạng lách, đánh võng đi theo đường Quốc lộ 5 về phía địa phận phường Quán Toan, quận Hồng Bàng. Khi đi đến khu vực chợ Quán Toan các đối tượng đánh anh Bùi Tiến D (sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn 3, xã C, huyện ThNg, thành phố Hải Phòng) đang điều khiển xe mô tô Airblade chở Lê Quốc T (sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn 3, xã B, huyện AD, thành phố Hải Phòng) đi trên đường Hải Triều, Quán Toan. Anh D vất xe bỏ chạy, các đối tượng điều khiển xe đuổi đánh, anh D ngã ra vỉa hè thì bị Tú dùng kiếm đánh vào vùng lưng, Trần Anh Đức dùng chân đá vào người, mặt làm anh D bị thương tích. Sau đó, các đối tượng điều khiển xe mô tô về khu vực ngã tư Quán Toan thấy có nhóm nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đứng ở cửa quán Bi-a New 98 Club, địa chỉ số 92 đường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Thấy vậy, cả nhóm vòng xe qua dải phân cách chạy vào đuổi đánh. Nghĩa và Đỗ Việt Đức ngồi trên xe ném chai thuỷ tinh về phía cửa quán. Tú, Vương, Trần Anh Đức, Bình Minh, Kiên cầm hung khí chạy vào đuổi đánh nhóm nam thanh niên trong quán, Vương, Trần Anh Đức, Bình Minh nhặt bi trên bàn ném về phía nhóm nam thanh niên trong quán. Khi không đuổi đánh được Bình Minh, Kiên dùng dao, kiếm chém gây hư hỏng xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 15C1 – 520.72; Vương dùng dao chém làm hư hỏng 01 bàn bi - a nhãn hiệu “MIT”, 01 hệ thống đèn Led loại sáu tấm. Còn Đặng Trung Đức, Phạm Văn Vinh, Phạm Gia Bảo, Phạm Tuấn Đ cầm hung khí chạy đến trước cửa quán tham gia đánh nhau, nhưng nhóm nam thanh niên trong quán dùng bi ném lại, chống cự quyết liệt nên các đối tượng bỏ chạy.

Ngày 14/7/2023, Ủy ban nhân dân phường Quán Toan có công văn số 15/UBND gửi Công an quận Hồng Bàng đề nghị điều tra, xử lý nghiêm vụ việc gây thương tích, mất an ninh trật tự xảy ra trên địa bàn phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, thanh phố Hải Phòng vào ngày 14/7/2023.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 64/KL - HĐĐGTS ngày 13/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hồng Bàng kết luận:

“Xe mô tô Honda Wave BKS 15C1 – 520.72 bị hư hỏng trị giá 2.090.000 đồng; 01 bàn bi-a “MIT” hư hỏng trị giá 3.200.000 đồng; 01 hệ thống đèn Led loại 6 tấm bị hư hỏng trị giá 350.000 đồng; sửa chữa phần dưới bên trái của bảng đèn Led trang trí bị nứt vỡ trị giá 250.000 đồng; thay thế 01 cửa kính kích thước 232 x 104 x 0,4 cm đã bị huỷ hoại trị giá 4.600.000 đồng; thay thế 07 quả bóng bi-a trị giá 6.700.000 đồng; thay thế gậy bi-a bị gãy làm đôi trị giá 700.000 đồng. Tổng cộng 17.890.000 đồng”.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể người sống số 571/2023/KLTTCT- TTPYHP ngày 22/8/2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Tiến D tại thời điểm giám định là 08%; tổn thương gãy xương chính mũi có đặc điểm do vật tày (tay chân cũng là vật tày) tác động trực tiếp gây nên; vết thương đốt 2 ngón III bàn chân phải có đặc điểm do vật có cạnh sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên”.

Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu thập được dữ liệu hình ảnh camera ghi lại nội dung sự việc. Tại bản Kết luận giám định số 622/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Các tập tin được lưu trong 03 USB Cơ quan CSĐT Công an quận Hồng Bàng trưng cầu giám định không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa. Trích xuất 06 (sáu) hình ảnh lập thành Bản ảnh”.

Ngày 26/6/2024, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng đã mở phiên tòa xét xử tuyên bố các bị cáo Đồng Quang Tú phạm tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS và tội Hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Đức Vương phạm tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trần Anh Đức, Đỗ Việt Đức, Vũ Văn Nghĩa, Đặng Trung Đức, Trương Văn Tuấn, Lê Phú Đạt, Phạm Văn Vinh, Lê Minh Dũng, Bùi Đức Lâm, Nguyễn Đức Toàn phạm tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đối với 04 đối tượng Phạm Hải S, Phạm Tuấn Đ, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Ngọc Th đang trong quá trình điều tra chưa xác minh được tên, tuổi, địa chỉ nên Công an quận Hồng Bàng đã tách vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ. Ngày 14/07/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã gửi Công văn số 875/ĐCSHS ngày 21/06/2024 tới Công an quận Hồng Bàng trao đổi thông tin về các đối tượng Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Ngọc Th, Phạm Tuấn Đ để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiến hành xử lý (do các đối tượng này đang bị Cơ quan điều tra huyện An Dương xử lý về hành vi khác và khai nhận ra hành vi Gây rối tại địa bàn quận Hồng Bàng vào ngày 14/7/2023). Sau khi tiếp nhận thông tin, ngày 13/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án để điều tra làm rõ hành vi của 04 đối tượng Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Ngọc Th, Phạm Tuấn Đ xử lý theo quy định pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hải S, Phạm Tuấn Đ, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Ngọc Th đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị D (sinh năm 1988; nơi ở: L, xã Đ, huyện AD, là chủ quán Bi-a New 98 Club ở địa chỉ số 92 đường H, quận HB, thành phố Hải Phòng) và anh Bùi Tiến D đã được bồi thường xong về dân sự, đến nay không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.

Về v t chứng: Hung khí các đối tượng sử dụng phạm tội sau đó đã vất ở khu vực trên Đường 5 cũ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số 07/CT- VKSKA ngày 25/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Phạm Tuấn Đ về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Phạm Tuấn Đ theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Phạm Tuấn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th từ 24 đến 27 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hải S từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng Điều 56, Điều 104 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp với hình phạt 10 năm 03 tháng tù của các bản án số 102 ngày 22/5/2024, số 137 ngày 02/7/2024, số 224 ngày 27/9/2024, buộc Phạm Hải S phải chấp hành hình phạt chung từ 11 năm 09 tháng tù đến 12 năm 03 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng Điều 56, Điều 104 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 08 năm 06 tháng tù của các bản án số 102 ngày 22/5/2024, 224 ngày 27/9/2024 buộc Nguyễn Tiến Đ phải chấp hành chung 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Tuấn Đ từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo Đ cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Quốc Hội về thu nộp án phí, lệ phí thì mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Hải S phải nộp án phí thay cho bị cáo do bị cáo là người chưa thành niên và không có tài sản riêng.

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; bị cáo Phạm Tuấn Đ đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại xã hội để bị cáo có cơ hội được tiếp tục việc học tập.

Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Hải S và Nguyễn Tiến Đ nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá về nguyên nhân, điều kiện phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án này: Bị cáo Phạm Hải S thời điểm phạm tội 16 tuổi, 05 tháng, 16 ngày; bị cáo Nguyễn Tiến Đ thời điểm phạm tội 16 tuổi, 08 tháng, 19 ngày tuổi đời còn trẻ nên rất dễ bị kích động, bản thân các bị cáo cũng không nhận thức hết được tính nguy hiểm và hậu quả hành vi của mình gây ra; việc phạm tội của các bị cáo cũng có một phần lỗi của cha mẹ và gia đình trong việc giám sát, quản lý con cái là người chưa thành niên. Các bị cáo đồng phạm giản đơn, không phải là chủ mưu cầm đầu, hành vi của các bị cáo chỉ mang tính chất bộc phát, nhất thời, nông nổi của tuổi chưa thành niên; bị cáo Nguyễn Tiến Đ có cụ nội là người có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Tiến Đ hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, căn cứ vào Điều 91 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với các bị cáo Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Hải S nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo Phạm Hải S dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người liên quan, Biên bản khám nghiệm hiện trường, các Kết luận giám định thương tích, Kết luận định giá tài sản, giám định hình ảnh và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0h30' ngày 14/7/2023, Phạm Hải S, Phạm Tuấn Đ, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Ngọc Th có hành vi sử dụng hung khí (gồm kiếm, giáo) và điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên nhiều tuyến đường từ Quốc lộ 5 về khu vực phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mục đích đi đánh nhau. Tại khu vực đối diện số 151 đường Hải Triều và số 92 đường Hùng Vương thuộc địa bàn phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, các đối tượng đã tham gia đuổi đánh nhau gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

Các bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội "Gây rối trật tự công cộng”, vi phạm điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố các bị cáo về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi đông người; vi phạm quy tắc, nếp sống văn minh, cản trở hoạt động lành mạnh và bình thường của những người khác ở nơi công cộng nên cần xét xử nghiêm, nhằm mục đích giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Tuấn Đ có ông nội được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và bố đẻ được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, Huy chương quân kỳ quyết thắng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến Đ đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do có cụ nội là người có công với cách mạng. Xét đề nghị này không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về nhân thân: Ngày 09/01/2025, bị cáo Nguyễn Ngọc Th bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt tù chung thân về tội Giết người (bản chưa có hiệu lực pháp luật); bị cáo Phạm Hải S 03 lần bị Tòa án kết án, bị cáo Nguyễn Tiến Đ 02 lần bị Tòa án kết án đối với hành vi mà bị cáo Phạm Hải S và bị cáo Nguyễn Tiến Đ thực hiện sau lần thực hiện hành vi này nên không được tính để xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung hình phạt đối với các bị cáo. Nhưng qua đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo kém.

Bị cáo Phạm Tuấn Đ không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét các vấn đề này khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc từ trước, Nguyễn Tiến Đ điều khiển xe Honda Vision chở Phạm Gia Bảo cầm giáo; Nguyễn Ngọc Th điều khiển xe Honda Airblade chở Phạm Tuấn Đ cầm kiếm, Đặng Anh Tuấn cầm ba chia; Phạm Hải S điều khiển xe Airblade chở Nguyễn Hữu Bình Minh cầm kiếm. Vì vậy, vai trò của các bị cáo là ngang nhau.

Về hình phạt chính: Trước khi thực hiện hành vi này, các bị cáo không có tiền án, tiền sự; các bị cáo Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ và Phạm Tuấn Đ khi phạm tội là người chưa thành niên nên được áp dụng các quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây nên, căn cứ quy định pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù thích hợp và cần buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật.

Đối với bị cáo Phạm Tuấn Đ, tại thời điểm phạm tội 17 tuổi, 01 tháng, 01 ngày, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần bắt bị cáo Phạm Tuấn Đ phải cách ly xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho bị cáo Phạm Tuấn Đ được cải tạo tại xã hội, lao động lương thiện để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự, hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo Phạm Tuấn Đ được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Tiến D đã được bồi thường xong về dân sự, đến nay không có yêu cầu gì đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Riêng bị cáo Phạm Hải S hiện là người chưa thành niên và không có tài sản riêng nên người đại diện hợp pháp của bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm thay cho bị cáo.

Đối với các đối tượng Cao Duy Minh, Trịnh Đức Hoàng thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội Gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi các đối tượng trên đều chưa đủ 16 tuổi nên chưa phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự (là tội phạm nghiêm trọng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã đề nghị chính quyền địa phương nơi cư trú áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường đối với các đối tượng trên là có căn cứ.

Đối với hành vi của các đối tượng Trần Huy, Lợi, nhóm nam thanh niên trong quán bi-a chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục tách vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra, khi nào có căn cứ sẽ phục hồi điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Th.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 104 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tuấn Đ.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Phạm Hải S, Nguyễn Tiến Đ, Phạm Tuấn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt:

+ Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/11/2023 (là ngày bị tạm giữ trong một vụ án khác).

+ Bị cáo Phạm Hải S 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số 224/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng buộc bị cáo Phạm Hải S phải chấp hành hình phạt chung là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2024 (là ngày bị tạm giữ trong bản án trước).

+ Bị cáo Nguyễn Tiến Đ 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 30 tháng tù của bản án hình sự số 224/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và 06 năm tù của Bản hình sự phúc thẩm số 779/2024/HS-PT ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười năm) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2023 (là ngày bị tạm giữ trong bản án trước).

+ Bị cáo Phạm Tuấn Đ 21 (hai mươi mốt) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (bốn mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Tuấn Đ cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận AD, thành phố Hải Phòng và gia đình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Phạm Tuấn Đ thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Bị cáo Phạm Tuấn Đ không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Các bị cáo Nguyễn Ngọc Th, Nguyễn Tiến Đ và Phạm Tuấn Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Hải S (ông Phạm Hồng H và bà Hoàng Thị L) phải nộp 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Các bị cáo; người đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo Phạm Hải S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nh n:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo; NCQLNVLQĐVA;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Hồng Bàng;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan CSĐT Công an quận Hồng Bàng;

- Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng;

- Phòng PV06 - Công an TP. Hải Phòng;

- Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hồng Bàng;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Bình THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bình

tạm giam – ngày 17/11/2024, trừ cho bị cáo những ngày đã chấp hành án của các bản án nói trên từ ngày 21/02/2024 đến ngày 16/11/2024 theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 254/2024/QĐ-CA ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Cỡ chữ