vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 15/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trương Quốc D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Về Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trương Quốc D có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại ông Lý Xà M số tiền 9.500.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quốc D - 134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 15-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoành.

Ông Ngô Văn Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Trần Nhật Nguyên – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tại – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Quốc D, sinh ngày 15/02/1992 tại phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Số căn cước công dân 094092002856 ngày 29/9/2022. Nơi cư trú: ấp S, xã P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thành N (chết) và bà Phạm Thị Bích H (sống); vợ con chưa có; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/4/2025 đến nay (bị cáo có mặt).

- Bị hại: Ông Lý Xà M (Sái), sinh ngày 01/01/1990 (có mặt).

Số căn cước công dân 094090000945 ngày 13/4/2021.

Địa chỉ: ấp S, xã P, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Bích H, sinh ngày 01/01/1969 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp S, xã P, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn N1, sinh ngày 01/01/1994 (có mặt).

2. Ông Danh M1 (Ni), sinh ngày 01/01/1982 (có mặt).

3. Bà Lý Thị C, sinh ngày 01/01/1988 (có mặt).

Cùng địa chỉ: ấp S, xã P, thành phố Cần Thơ.

4. Ông Sơn Xà R (Lịnh), sinh ngày 09/3/1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp S, xã P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trương Quốc D và bị hại Lý Xà M là bạn bè quen biết với nhau. Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 09 tháng 01 năm 2025, bị cáo D nhậu chung với bị hại M và 03 người khác là Sơn Xà R, Danh M1 và Nguyễn Văn N1 trước sân nhà của ông Tiêu Thanh T tại ấp S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã P, thành phố Cần Thơ). Quá trình nhậu chung đến khoảng 22 giờ 00 phút, thì bị cáo D và bị hại M phát sinh mâu thuẫn do bị cáo D nói về gia đình bị hại M nên cả hai xảy ra cự cải qua lại rồi bị hại M đi ra phía sau lưng bị cáo D dùng tay bóp cổ và đè bị cáo D nằm xuống nền xi măng nhưng không có đánh, sau đó được mọi người can ngăn thì bị hại M buông ra và đỡ bị cáo D ngồi dậy. Do tức giận bị cáo đi về nhà lấy cây dao loại dao dài 80cm, cán màu đen, lưỡi màu trắng, sống dao có đoạn hình răng cưa giấu sau lưng quay lại chổ đang nhậu để chém bị hại M. Khi đến, bị cáo D cầm dao bằng hai tay (tay phải cầm cán dao còn tay trái thì cầm nắm trên tay phải) chém bị hại M theo hướng từ trên xuống, thấy bị cáo D đưa dao lên chém thì bị hại M đứng lên dùng tay phải đỡ vào cán dao, còn tay trái thì đỡ vùng trán bên trái, làm dao rớt xuống và mũi dao trúng vào trán bên trái và ngón tay giữa của bàn tay trái dẫn đến thương tích, chém bị hại M xong bị cáo D cầm theo cây dao rời khỏi hiện trường còn bị hại M thì đi về nhà kêu vợ là Lý Thị C đưa bị hại M lên trụ sở Công an thị trấn H trình báo vụ việc và đến Trung tâm y tế huyện T để khám điều trị nhưng không có nằm viện.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan Công an tiến hành mời bị cáo D lên làm việc thì bị cáo D thừa nhận toàn bộ hành vi dùng dao chém gây thương tích bị hại M và tự nguyện giao nộp lại vật chứng cho Cơ quan Công an.

Đến ngày 17 tháng 02 năm 2025, bị hại Lý Xà M có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo Trương Quốc D.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 48/KLTTCT-TTPYST, ngày 05 tháng 02 năm 2025, của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh S, đối với Lý Xà M, kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Sẹo vùng thái dương bên trái, kích thước lớn; căn cứ vào Bảng 1, C, Mục I.3, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm).

- Sẹo đốt xa ngón 3 bàn tay trái, kích thước trung bình; căn cứ vào Bảng 1, C, Mục I.2, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm).

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lý Xà M tại thời điểm giám định là: 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác: Tổn thương có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên.

Quá trình điều tra xác định cây dao mà D dùng để chém M có dấu hiệu của tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành trưng cầu Phân viện khoa học tại thành phố Hồ Chí Minh giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 1683/KL-KTHS, ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là đao, thuộc danh mục vũ khí thô sơ.

Tại phiên tòa bị hại ông Lý Xà M trình bày: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng, đã nhận từ gia đình bị cáo 500.000 đồng, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 9.500.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Quốc D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo đồng ý nội dung kết luận giám định và bị cáo đã tác động gia đình bồi thường tiền thuốc cho bị hại 500.000 đồng, nay bị hại yêu cầu bồi thường 9.500.000 đồng thì bị cáo không đồng ý.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV7 ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo Trương Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng, phân tích, đánh giá động cơ, mục đích, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù; về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 9.500.000 đồng, án phí bị cáo buộc bị cáo nộp theo quy định pháp luật.

Tại lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Phiên tòa hôm nay vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Bích H và người làm chứng Sơn Xà R. Xét thấy, việc vắng mặt những người nêu trên không cản trở việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Quá trình điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định tổn thương cơ thể bị hại, lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/01/2025 tại ấp S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp Số I, xã P, thành phố Cần Thơ) bị cáo Trương Quốc D đã có hành vi dùng dao (qua giám định là đao) là hung khí nguy hiểm chém trúng vào vùng thái dương bên trái và ngón tay giữa bàn tay trái của Lý Xà M gây thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể 05% (Năm phần trăm).

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi xâm hại sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Xuất phát từ việc bực tức do bị Lý Xà M bóp cổ và đè nằm xuống nền xi măng trong lúc nhậu tại trước nhà ông Tiêu Thanh T tại ấp S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp Số I, xã P, thành phố Cần Thơ) bị cáo đã dùng đao là vũ khí để gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể 5%, nên bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Do vậy, bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV7 ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo về tội danh theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại. Nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng một hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tuân thủ pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lý Xà M yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng, đã nhận của gia đình bị cáo 500.000 đồng, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 9.500.000 đồng. Xét yêu cầu của bị hại bao gồm chi phí điều trị, tiền công lao động và tổn thất tính thần là phù hợp quy định tại các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại ông M số tiền 9.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ là 01 cây đao, được kết luận giám định là vũ khí thô sơ có dấu hiệu của tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng nên cơ quan điều tra đã tách ra để giải quyết theo thẩm quyền bằng một vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên toàn bộ đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật, mức hình phạt, cũng như về trách nhiệm dân sự, án phí là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trương Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trương Quốc D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

2. Về Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trương Quốc D có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại ông Lý Xà M số tiền 9.500.000 đồng.

Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án nếu chưa trả được số tiền phải thi hành án thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Bị cáo Trương Quốc D phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 475.000 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm. Người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ