vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 21/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6- Gia Lai) xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 09 (chín) tháng tù về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn Trường can tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6- GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 21-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Xuân Thành

Ông Nguyễn Văn Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 6- Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chánh Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6- Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:

Huỳnh Tấn T, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1997; số căn cước công dân: 052097001278, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/5/2021; nơi cư trú: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là khu phố G, phường H, tỉnh Gia Lai); nghề nghiệp: thợ sơn; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Huỳnh Tấn L, sinh năm 1975; mẹ: Võ Thị T1, sinh năm 1973; Vợ, con: không; Tiền án: không; tiền sự:

- Ngày 06/3/2024, bị cáo bị Trưởng Công an phường H, thị xã H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt xong ngày 01/8/2024.

- Ngày 07/3/2024, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã nộp phạt xong ngày 01/8/2024.

- Ngày 05/12/2024, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H ra quyết định xử phạt vi phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt xong ngày 14/02/2025.

Về nhân thân:

- Ngày 25/11/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” quy định tại khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/3/2021 (đã xóa án tích).

- Ngày 28/11/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (thời điểm xảy ra vụ án ngày 02/02/2025, bản án chưa có hiệu lực pháp luật). Bị cáo đang chấp hành án tại Trại Giam A- Bộ C, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1972

Địa chỉ: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (Nay là khu phố G, phường H, tỉnh Gia Lai).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm 1976

Địa chỉ: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (Nay là khu phố G, phường H, tỉnh Gia Lai).

- Người làm chứng: Ông Phạm T2, sinh năm 1976

Địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (Nay là khu phố A, phường H, tỉnh Gia Lai).

+ Ông Lừng Ngọc Ý, sinh năm 1990

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971

Cùng địa chỉ: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (Nay là khu phố G, phường H, tỉnh Gia Lai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 02/02/2025, bị cáo Huỳnh Tấn T điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 77C1-29.586 của cha ruột là ông Huỳnh Tấn L đi tìm tài sản trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến Nghĩa địa G thuộc khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là Khu phố G, phường H, tỉnh Gia Lai), bị cáo dựng xe ở ngoài rồi đi vào bên trong, bị cáo thấy có nhiều giàn giáo đang sử dụng để chống đỡ mê bê tông công trình ngôi mộ, sau khi quan sát không có người qua lại, bị cáo lén lút dùng tay tháo dở 03 bộ giàn giáo (gồm: 06 chân giàn giáo và 06 cây chéo giàn giáo) đang sử dụng để chống đỡ một bên mê bê tông hướng Đông của công trình. Sau khi lấy được số giàn giáo, bị cáo để lên phía sau yên xe mô tô, một tay giữ số giàn giáo, tay còn lại điều khiển xe mô tô nhanh chóng chở đi tiêu thụ. Trên đường đi, bị ông Phạm Tân phát H1 và thông báo sự việc cho ông Phạm Văn Đ biết.

Đến 14 giờ 25 phút cùng ngày, bị cáo chở số giàn giáo đến cơ sở thu mua phế liệu Thành Thức của bà Nguyễn Thị H, bị cáo gặp anh Lừng Ngọc Ý, con ruột của bà H, bị cáo nói muốn bán số giàn giáo này nhưng ông Ý không đồng ý thu mua. Bị cáo gửi lại số giàn giáo này ở cơ sở bà H hẹn hôm sau quay lại lấy. Sau đó, bị cáo đem 03 bộ giàn giáo vào để ở mép tường phía Bắc gần cửa ra vào của cơ sở thu mua phế liệu Thành Thức rồi điều khiển xe mô tô ra về.

Cùng ngày, ông Đ báo cáo sự việc đến Công an phường H (nay là Phường H), C tiếp nhận thông tin, xác minh và xác định bị cáo T là người đã trộm cắp tài sản nêu trên, tiến hành thu hồi 03 bộ giàn giáo tại nhà bà Nguyễn Thị H.

Theo Kết luận định giá tài sản số 14/HDĐGTS ngày 20/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H: 03 (ba) bộ G đã qua sử dụng gồm 06 chân giàn giáo được làm bằng sắt ống phi 42, kích thước (1,188 x 1,68) m, được gia cố bằng phi 21 và 06 cây chéo được làm bằng ống sắt phi 21 dài 2,18m; vào thời điểm xảy ra vụ án ngày 02/02/2025, có tổng giá trị: 2.250.000 đồng (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh G) đã tạm giữ sau đó trả lại 03 (ba) bộ giàn giáo cho ông Phạm Văn Đ; 01 (một) xe mô tô biển số kiểm soát 77C1-29.586 cho ông Huỳnh Tấn L.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số: 47/CT-VKS ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Gia Lai) đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Huỳnh Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Tấn T, về tội danh: đề nghị tuyên Huỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của bản án này với Bản án số 106/2024/HSSST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6- Gia Lai). Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: không yêu cầu nên không xem xét.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 02/02/2025 bị cáo Huỳnh Tấn T đã có hành vi trộm cắp 03 (ba) bộ G đã qua sử dụng, gồm 06 chân giàn giáo được làm bằng sắt ống phi 42, kích thước (1,18 x 1,68)m, được gia cố bằng phi 21 và 06 cây chéo được làm bằng ống sắt phi 21 dài 2,18m trị giá 2.250.000 đồng của ông Phạm Văn Đ. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tổng hợp các chứng cứ, đánh giá diễn biến khách quan của vụ án, thấy rằng việc truy tố, xét xử bị cáo Huỳnh Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo Huỳnh Tấn T có nhân thân xấu, ngày 25/11/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” quy định tại khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/3/2021 (đã xóa án tích). Ngày 28/11/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (thời điểm xảy ra vụ án ngày 02/02/2025, bản án chưa có hiệu lực pháp luật). Bị cáo đang chấp hành án tại Trại Giam A- Bộ C”, bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành chính, đã từng bị Tòa án kết án, đi chấp hành án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội khi đang trong thời gian kháng cáo bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Bởi vậy cần phải có một mức án thật nghiêm khắc mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội; bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định.

Bản án số 106/2024/HSST, ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6- Gia Lai, tỉnh Gia Lai) xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã có hiệu lực pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt với lần phạm tội này, buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt cho cả hai bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (ngày 17/02/2025).

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản và nguồn thu nhập ổn định, khi áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền không có tính khả thi, vì vậy không áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Phạm Văn Đ không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về những vấn đề khác:

Ông Huỳnh Tấn L không biết bị cáo sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 77C1-29.586 của mình để đi trộm cắp tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 về tội danh, điều luật và mức hình phạt với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6- Gia Lai) xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án ngày 17/02/2025 đối với Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6- Gia Lai, tỉnh Gia Lai).

3. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Tấn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ