vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 10/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Thị Ủ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Thị Ủ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 06-5-2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị U phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Thị Ủ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 10-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Tý;

2. Bà Phạm Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quang Hưng- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giỏi- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 15-8-2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 28-8-2025, đối với bị cáo:

Lò Thị Ủ, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1972 tại Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, tỉnh Lào Cai (trước sáp nhập là thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K và bà Lò Thị C, có chồng là Hoàng Văn T và có 02 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 06-5-2025; bị tạm giam từ ngày 09-5-2025; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đức Đ- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai; có mặt.

Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng Lường Văn L, Hà Văn Ấ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27-4-2025 tại khu vực đầu Cầu treo thuộc thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, Lò Thị Ủ mua của một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên, tuổi 02 gói Heroine với giá 800.000 đồng được gói bằng nilon màu xanh. Sau khi mua được ma túy Lò Thị Ủ chia số Heroine mua được thành nhiều phần nhỏ và gói lại bằng những mảnh giấy màu trắng, Ủ không kiểm đếm nên không biết được bao nhiêu gói Heroine. Sau đó Ủ lấy một phần những gói Heroine đã chia cho vào 01 lọ nhựa màu trắng - xanh rồi cất giấu ở đầu giường ngủ, phần còn lại Ủ cho vào 01 hộp nhựa hình chữ nhật cất giấu tại túi vải màu xanh treo trên tường, cạnh giường ngủ. Lò Thị Ủ đã bán Heroine cho nhiều người nhưng bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ và không nhớ được số lần bán, thời gian bán, Ủ chỉ nhớ và xác định được 02 lần bán ma túy cho Lường Văn L và Hà Văn Ấ, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ, ngày 28-4-2025 tại nhà Lò Thị Ủ tại thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, Lường Văn L và Hà Văn Ấ hỏi mua Heroine để sử dụng. Ủ đồng ý bán thì L và Ấ cùng lúc mỗi người đưa cho Ủ 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Sau khi nhận tổng số tiền 200.000 đồng Ủ lấy 02 gói Heroine trong lọ nhựa màu trắng - xanh để ở đầu giường ngủ đưa cho L, Ấ mỗi người 01 gói Heroine. Mua được Heroine, trên đường về L và Ấ đã sử dụng hết số Heroine mua được.

- Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 06-5-2025 khi Ủ đang ở nhà thì L và Ấ đến hỏi mua Heroine để sử dụng. L và Ấ cùng lúc mỗi người đưa cho Lò Thị Ủ 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng để mua Heroine, Ủ nhận tổng 200.000 đồng và lấy 02 gói Heroine trong lọ nhựa màu trắng - xanh đưa cho L, Ấ mỗi người 01 gói. Sau khi mua được H, L và Ấ ra bàn uống nước nhà Ủ ngồi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 06-05-2025 tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái làm nhiệm vụ tại khu vực thôn N, xã T, thị xã N, thì phát hiện tại nhà ở của Lò Thị Ủ, có 03 người có biểu hiện nghi vấn mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra Lò Thị Ủ đã tự giác giao nộp 01 lọ nhựa màu trắng - xanh có nắp đậy, trên lọ nhựa có chữ “CoolAir”, bên trong có 11 gói giấy màu trắng có chữ, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột nén màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu trắng; tiền mặt 500.000 đồng gồm nhiều tờ tiền có chữ ngân hàng N. Lò Thị Ủ khai nhận, chất bột nén màu trắng trong các gói giấy là ma tuý, loại Heroine, Ủ cất giấu để bán cho những người nghiện ma túy.

Kiểm tra người Lường Văn L và Hà Văn Ấ không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật gì. L và Ấ khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 06-5-2025, L và Ấ đến nhà Ủ và đã cùng lúc mỗi người đưa 100.000 đồng cho Ủ, sau khi nhận tiền Lò Thị Ủ đã lấy 02 gói Heroine để trong lọ nhựa màu trắng - xanh cất giấu trên đầu giường ngủ đưa cho L và Ấ mỗi người 01 gói. Ngay sau đó thì bị tổ công tác đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thấy lực lượng Công an L và Ấ đã dùng tay búng gói Heroine vừa mua được ra bên ngoài cửa sổ nhà Lò Thị Ủ, Cơ quan Công an đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm thấy 02 gói Heroine như mô tả của L và Ấ. Tổ công tác Công an tỉnh Y đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Thị Ủ về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, thu giữ, niêm phong vật chứng, tài sản theo quy định.

Vào hồi 10 giờ 50 phút, ngày 06-5-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Lò Thị Ủ tại tổ dân phố N, xã T, thị xã N. Kết quả khám xét: Thu giữ, tạm giữ trong chiếc túi màu xanh treo trên giá quần áo bên trái cửa ra vào, phía trong nhà của Lò Thị Ủ 01 hộp nhựa hình chữ nhật, bên trong có 08 gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột nén màu trắng; số tiền 1.900.000 đồng; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Thị Ủ.

Kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận:

1. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lò Thị Ủ có tổng khối lượng là: 0,35 gam. 0,1 gam trích từ 0,35 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

2. Chất bột nén màu trắng thu giữ trong quá trình khám xét nhà ở của Lò Thị Ủ có tổng khối lượng là: 0,45 gam. 0,1 gam trích từ 0,45 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất.

Kết luận giám định số 233/KL-KTHS ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng; 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 08 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; 05 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng gửi giám định đều là tiền thật.

Cáo trạng số: 07/CT-VKS – KV5 ngày 15-8-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai đã truy tố bị cáo Lò Thị Ủ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lò Thị Ủ khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị cáo đã thực hiện, đối với số tiền 2.400.000 đồng bị Công an thu giữ, trong số tiền này có 400.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho L và Ấ có được, số tiền còn lại là do bị cáo bán gà, vịt và bán hàng có được, chiếc điện thoại và thẻ căn cước công dân là tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan gì đến việc phạm tội của bị cáo; bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Thị Ủ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu và tiêu hủy: 0,6 gam Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành; 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 lọ nhựa có chữ “Coolair” và các mảnh giấy; 01 hộp nhựa màu trắng hình chữ nhật.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 400.000 đồng do bị cáo bán ma túy cho Lường Văn L, Hà Văn Ấ có được; trả lại bị cáo 2.000.000 đồng. Số tiền trả lại và số tiền tịch thu được chuyển vào tài khoản tạm giữ của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai, tài khoản 3949.0.1054132.00000 tại Phòng kế toán nhà nước- Kho bạc khu vực IX theo giấy nộp tiền mặt mẫu số; C001; phiếu hạch toán nộp tiền mặt số 6850, ngày 21-8-2025 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 chi nhánh Yên Bái.

- Trả lại bị cáo: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Thị Ủ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu trắng, máy đã qua sử dụng;

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 nghịsố: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo là người dân tộc thiểu số, thu nhập hằng ngày từ trồng trọt, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, là người lao động nhất thời phạm; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khai báo về hành vi phạm tội trước đó. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt; bị cáo gia đình thuộc diện hộ nghèo đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo; đối với số tiền 2.400.000 đồng bị thu giữ có 2.000.000 đồng, 01 điện thoại và 01 căn cước công dân là những tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không tranh luận với kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm người làm chứng Lường Văn L, Hà Văn Ấ vắng mặt. Sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội mình đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận:

Với động cơ, mục đích vụ lợi, trong khoảng thời gian từ ngày 28-4-2025 đến ngày 06-5-2025 tại nơi ở của Lò Thị Ủ, thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái (nay là tổ dân phố N, phường C, tỉnh Lào Cai). Bị cáo Lò Thị Ủ đã 02 lần cùng một lúc bán trái phép chất ma túy cho 02 người, cụ thể:

Lần 1: Vào hồi 08 giờ, ngày 28-4-2025 Lò Thị Ủ đã bán cùng lúc cho Lường Văn L, Hà Văn Ấ mỗi người một gói Heroine với giá 100.000 đồng/gói thu được 200.000 đồng.

Lần 2: Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 06-5-2025 Lò Thị Ủ đã bán cùng lúc cho Lường Văn L, Hà Văn Ấ mỗi người một gói Heroine với giá 100.000 đồng/gói thu được 200.000 đồng và tàng trữ 0,8 gam Heroine mục đích để bán thì bị Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang.

Như vậy, với hành vi 02 lần cùng lúc bán trái phép chất ma túy cho hai người và tàng trữ tổng 0,8 gam Heroine mục đích để bán, hành vi của bị cáo Lò Thị Ủ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Ủ về tội danh và điều luật đã được viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Lò Thị Ủ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích vụ lợi, thu lợi bất chính.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, lan tràn tệ nạn nghiện chất ma tuý và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, xâm hại trật tự an toàn xã hội.

Xét nhân thân: Bị cáo là phụ nữ phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên cần xác định bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Thị Ủ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện khai ra hành vi bán Heroine cho Lường Văn L và Hà Văn Ấ vào ngày 28-4-2025 khi chưa bị cơ quan điều tra phát hiện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Tự thú” và “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên, người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên là có căn cứ được chấp nhận.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có thể giúp bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:

- Đối với 0,8 gam Heroine thu giữ của bị cáo. Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái đã lấy 0,2 gam Heroine làm mẫu vật giám định, không hoàn lại. Khối lượng Heroine còn lại là 0,6 gam, được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 lọ nhựa có chữ “Coolair” và các mảnh giấy; 01 hộp nhựa màu trắng hình chữ nhật là những vật bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy không có giá trị, hoặc không sử dụng được cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với số tiền 2.400.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong số tiền này có 400.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho Lường Văn L, Hà Văn Ấ có được, đây là tiền bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại là 2.000.000 đồng quá trình điều tra và tại phiên tòa không chứng minh được số tiền này là do bị cáo phạm tội mà có, do đó cần trả lại cho bị cáo số tiền này.

- Đối với: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Thị Ủ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu trắng, máy đã qua sử dụng. Đây là giấy tờ tủy thân và tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, xét thấy cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

- Đối với 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được cần tịch thu và tiêu hủy.

Các đối tượng và hành vi có liên quan:

Đối với Lường Văn L và Hà Văn Ấ đã có hành vi mua Heroine của Lò Thị Ủ, trong đó số Heroine mua ngày 28-4-2025 L và Ấ đã sử dụng hết, nên không xác định được khối lượng; số Heroine L, Ấ mua ngày 06-5-2025, khi nhìn thấy cơ quan Công an L và Ấ đã búng gói Heroine vừa mua được qua cửa sổ nhà Ủ, do không thu giữ được số Heroine này nên không xác định được khối lượng. Ngày 06-5-2025 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Y đã xét nghiệm chất ma tuý đối L và Ấ, kết quả dương tính với ma tuý nên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lường Văn L và Hà Văn Ấ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

Đối với người phụ đã bán Heroine cho bị cáo Lò Thị Ủ tại khu vực đầu Cầu treo thuộc thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, nay là tổ dân phố N, phường C, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai, ở đâu nên không có cơ sở để xem xét, xử lý trong vụ án này.

Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo theo Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cần nghèo số: 34/GCN-HN-HCN ngày 03-01-2025 của UBND xã T, tại phiên tòa bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xem xét miễn án phí cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị của bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa là có căn cứ nên được chấp nhận.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Thị Ủ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Thị Ủ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 06-5-2025.

3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,6 gam Heroine còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 lọ nhựa có chữ “Coolair” và các mảnh giấy; 01 hộp nhựa màu trắng hình chữ nhật.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 400.000 đồng; trả lại bị cáo 2.000.000 đồng. Số tiền trả lại và số tiền tịch thu được chuyển vào tài khoản tạm giữ của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai, tài khoản số: 3949.0.1054132.00000 tại Phòng kế toán nhà nước- Kho bạc khu vực IX theo giấy nộp tiền mặt mẫu số: C001; phiếu hạch toán nộp tiền mặt số: 6850, ngày 21-8-2025 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ2 chi nhánh Y.

- Trả lại bị cáo: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Thị Ủ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu trắng, máy đã qua sử dụng.

Các vật chứng và tài sản tạm giữ có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22-8-2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh L và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5, tỉnh Lào Cai.

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Thị Ủ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ