vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/5/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 17-9-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Sơn La.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Chí Thanh và ông Đỗ Tiến Hiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Thiết, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

- Các Bị hại:

+ Chị Lò Thị B, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản C, xã Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Quàng Văn B, sinh năm 1963, địa chỉ: Bản C, xã Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Anh Lò Văn N, sinh năm 1998, địa chỉ: Tiểu khu 3, xã M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La.

- Cán bộ Tòa án Khu vực 4 – Sơn La: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.

- Cán bộ Viện kiểm sát Khu vực 4 - Sơn La: Bà Phạm Thanh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La, xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo: Tòng Văn T, sinh năm 1998, tại thành phố S, tỉnh Sơn La (Nay là Phường C, tỉnh Sơn La); nơi đăng ký HKTT: Bản N, phường C, tỉnh Sơn La, nơi ở hiện nay: tiểu khu 17, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn T và bà Cà Thị C (đã chết); bị cáo chưa có vợ con;

Nhân thân:

+ Ngày 24/8/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 19/9/2018 (Đã được xoá án tích).

+ Ngày 18/12/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong ngày 18/8/2022 (Đã được xoá tiền sự)

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2025 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối năm 2023, Tòng Văn T thuê nhà trọ của gia đình Nguyễn Văn M, sinh năm 1984, trú tại tiểu khu 19, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu 19, xã M, tỉnh Sơn La) để ở và đi làm thuê tại khu vực thị trấn Hát Lót, huyện M (nay là xã M, tỉnh Sơn La). Khoảng đầu năm 2024, T quen biết với Trần Anh T, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú tại Khu 5, xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (nay là khu 4, xã Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ), thuê trọ tại tiểu khu 17, xã M, tỉnh Sơn La. Khoảng 11 giờ ngày 11/5/2025, Trần anh T gọi điện thoại di động rủ T và Tòng Thị C (bạn gái của T), sinh năm 1995, trú tại bản Khá, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là xã T, tỉnh Điện Biên) đến phòng trọ Trần anh T để ăn cơm, T đồng ý và cùng C đến phòng trọ của Trần anh T ăn cơm, đến phòng trọ của Trần anh T gặp thêm Hà Thị L. Đến 14 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong T và Trần anh T ngồi uống nước (C và L dọn dẹp trong bếp), Trần anh T rủ T tối đi trộm chó, T đồng ý. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/5/2025, Trần anh T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen (T không biết biển kiểm soát) gọi T đi trộm chó (lúc này Tòng Thị C đi làm tại quán Karaoke Thịnh 39). Trần anh T cầm 01 khẩu súng bằng gỗ tự chế, có mũi tên bắn, đầu mũi tên có 02 thanh kim loại nhọn nối liền với dây điện màu đỏ dài 03m kết nối với bình ắc quy quấn bên ngoài băng dính màu đen có dây đeo màu đen thì T biết đây là dụng cụ dùng để bắn chó. T hỏi và được Trần Anh T hướng dẫn cách sử dụng, sau đó T bắn thử một vài lần, Trần Anh T bảo T đeo bình ắc quy trên người khi thấy chó sẽ bắn và đưa cho T 04 cuộn băng dính loại băng dính cách điện để cuốn mõm chó khi bắn được. Trần Anh T điều khiển xe mô tô chở T đi đến xã Y, huyện Y, tỉnh Sơn La (nay là xã Y, tỉnh Sơn La) để trộm chó của người dân thả ra đường. Trong ngày 12/5/2025, Trần Anh T và T đã thực hiện 03 lần trộm cắp chó của người dân trên khu vực xã Y và xã M, tỉnh Sơn La, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Anh T điều khiển xe mô tô đến nhà Lò Thị B, sinh năm 1995, trú tại Bản C, xã Y, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (nay là Bản C, xã Y, tỉnh Sơn La) thì thấy 01 con chó đực, màu vàng, chân màu trắng đang chạy ngược chiều trên đường dân sinh. Trần Anh T điều khiển xe mô tô đến vị trí con chó khoảng 1,5m, T sử dụng súng tự chế bắn mũi tên bằng kim loại có kết nối dây điện với bình ắc quy trúng vào thân của con chó khiến con chó bị giật ngất nằm xuống đường. Trần Anh T dừng xe, T xuống xe ôm con chó lên yên xe mô tô rồi dùng băng dính quấn quanh mõm sau đó cho vào bao tải để ở giá để hàng ở phía trước khung xe mô tô.

Vụ thứ hai: Sau khi trộm cắp tài sản nhà Lò Thị B, Trần Anh T điều khiển xe mô tô đến nhà Quàng Văn B, sinh năm 1963, trú tại Bản C, xã Y, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (nay là Bản C, xã Y, tỉnh Sơn La) thấy 01 con chó cái, màu lông đen, mõm màu trắng đang đứng tại lề đường bên phải trước cửa nhà. Trần Anh T điều khiển xe mô tô đến vị trí con chó khoảng 01m, T sử dụng súng tự chế bắn mũi tên bằng kim loại có kết nối dây điện với bình ắc quy trúng vào thân của con chó khiến con chó bị giật ngất nằm xuống đường. Trần Anh T dừng xe, T xuống xe ôm con chó lên yên xe mô tô rồi dùng băng dính quấn quanh mõm sau đó cho vào bao tải để ở giá để hàng ở phía trước khung xe mô tô.

Vụ thứ ba: Sau khi trộm cắp tài sản nhà Quàng Văn B, Trần Anh T điều khiển xe mô tô đến nhà Lò Văn N, sinh năm 1998, trú tại tiểu khu 3, thị trấn Hát Lót, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu 3, xã M, tỉnh Sơn La) thấy 01 con chó cái màu lông vàng - đen đang đi ngược chiều bên trái. Trần Anh T điều khiển xe mô tô đến vị trí con chó khoảng 01m, T sử dụng súng tự chế bắn mũi tên bằng kim loại có kết nối dây điện với bình ắc quy trúng vào thân của con chó khiến con chó bị giật ngất nằm xuống đường. Trần Anh T dừng xe, T xuống xe ôm con chó lên yên xe mô tô rồi dùng băng dính quấn quanh mõm sau đó đặt con chó ở vị trí giữa T và Trần Anh T.

Sau khi trộm cắp được 03 con chó thì Trần Anh T điều khiển xe mô tô chở T đến bán cho Nguyễn Văn V, sinh năm 1978, trú tại tiểu khu 16, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu 16, xã M, tỉnh Sơn La). Khi T và Trần Anh T chuẩn bị bán chó cho V thì bị gia đình Lò Văn N phát hiện nên Trần Anh T bỏ chạy, T bị Lò Văn N, cùng bố Nam là Lò Văn T, sinh năm 1976 và mẹ là Hoàng Thị P, sinh năm 1976, cùng trú tại tiểu khu 3, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu 3, xã M, tỉnh Sơn La) giữ lại cùng phương tiện, đồ vật, tài sản. Sau đó, Nguyễn Văn V đã gọi điện thoại di động báo tin cho Công an thị trấn H (nay là Công an xã M), bàn giao người, vật chứng để điều tra, xác minh, xử lý theo quy định. Sau khi phát hiện bị mất tài sản gia đình Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B đã có đơn trình báo, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La điều tra, giải quyết theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, SIRIUS, màu sơn đỏ - đen, đeo bên ngoài biển số đăng ký 36M8 - 8530 (bám dính nhiều bùn đất), đeo bên trong biển số đăng ký 26K1 - 242.61.

- 03 con chó, trong đó: 01 con chó cái, lông màu đen, mõm màu trắng, còn sống; 01 con chó đực lông màu vàng, chân màu lông trắng (đã chết); 01 con chó cái lông màu vàng - đen, còn sống.

- 01 bình ác quy kích thước 26,5cm x 13cm x 7cm, mặt ngoài được cuốn bằng nhiều lớp băng dính màu đen, dây điện màu Đỏ; phần trên bình có dây đeo bằng vải màu đen dài 8cm, tiếp giáp giữa dây đeo và bình được cuốn bằng dính màu đen trên dây đeo cách mặt bình 20cm có 01 công tác bằng nhựa màu trắng đen kết nối từ bình đến súng tự chế là dây điện màu đỏ dài 3,47m; phần súng tự chế có thân súng bằng gỗ kích thước dài 40cm báng súng cuốn băng dính màu đen, trên mặt súng có 01 thanh gỗ hình trụ tròn dài 28cm, đường kính 8cm, đầu thanh gỗ là 01 hình trụ tròn cuốn băng dính màu đen kích thước 6cm, đường kính 4cm có hai mũi kim loại nhọn dài 5cm khoảng cách hai đầu mũi nhọn cách nhau 2,1cm.

- 01 con dao bằng kim loại, chuôi dao và vỏ màu đen bằng nhựa, dài 30,2cm cả chuôi; phân lưỡi dao dài 12cm bản rộng nhất 06cm.

- 01 chiếc dũa bằng sắt màu nâu dài 15cm hai đầu cuốn bằng băng dính màu đen.

- 04 cuộn băng dính màu đen đã qua sử dụng.

- 01 lọ keo 502, vỏ giấy màu trắng, lọ màu trắng.

- 01 bao tải bằng vải, kẻ ô vuông màu đen – trắng, dài 1,45m, rộng 67cm.

Ngày 12/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Tòng Văn T. Kết quả: Không phát hiện, thu giữ gì.

Ngày 12/5/2025, Tòng Văn T đã tự giác giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, màu vàng, lắp sim điện thoại di động số 0337106574. Tiến hành kiểm tra phát hiện từ ngày 14/2/2025 đến ngày 12/5/2025 T gọi điện thoại đến số điện thoại 0388743992, lưu tên “A Trần Anh T” 49 cuộc gọi: 12 cuộc gọi nhỡ, 30 cuộc gọi đi, 07 cuộc gọi đến; Kiểm tra tài khoản zalo của T có liên lạc với tài khoản của Trần Anh T mang tên “Jungjoon” 03 cuộc vào ngày 02/01/2025, 07/01/2025, 11/01/2025. Tiến hành thu giữ hình ảnh của Trần Anh T thông qua mạng xã hội Zalo và Facebook.

Ngày 12/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La) tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường phù hợp hành vi, vật chứng thu giữ, lời khai của Tòng Văn T và những người bị hại Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B.

Ngày 13/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 3242/YC-VPCQCSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện M xác định giá trị của 03 con chó có đặc điểm: 01 con chó cái, lông màu đen, mõm màu trắng có khối lượng 13kg, 01 con chó cái, lông màu đen, mõm màu trắng có khối lượng 13kg, 01 con chó cái, lông màu vàng - đen khối lượng 12,6kg.

Tại Kết luận định giá tài sản số 619/KL-HĐ ngày 15/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận:

“- 01 con chó cái, lông màu đen, mõm màu trắng có khối lượng 13kg trị giá 845.000VNĐ. 01 con chó đực, lông màu vàng, chân màu trắng có khối lượng 13kg trị giá 845.000VNĐ. 01 con chó cái, lông màu vàng – đen khối lượng 12,6kg trị giá 819.000VNĐ. Tổng trị giá 03 con chó là 2.509.000VNĐ”

Về bồi thường dân sự: Người bị hại Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B đều không yêu cầu Tòng Văn T phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự về hành vi trộm cắp tài sản.

Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS KV4 ngày 22/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La, đã truy tố bị can Tòng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Tòng Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

* Tranh luận tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt : Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Tòng Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2025 (Ngày bắt tạm giữ bị cáo).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận việc các bị hại Lò Thị B, Quàng Văn B, Lò Văn N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy cát tông, kích thước 52cm x 41cm x 11cm Các mép hộp được dán kín, được dán niêm phong bằng giấy niêm phong số 092313 và 092314 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, trên mặt giấy niêm phong có 02 dấu tròn Đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, có chữ ký, ghi họ tên của các thành phần tham gia niêm phong. Một mặt hộp dán giấy ghi chữ bên trong chứa: “Đồ vật, tài sản phát hiện thu giữ thuộc vụ việc Tòng Văn T có hành vi trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 12/05/2025”; 04 (bốn) cuộn băng dính màu Đen đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bao tải bằng vải, kẻ ô vuông màu đen - trắng, dài 1,45m, rộng 67cm.

Trả lại cho bị cáo Tòng Văn T 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, màu vàng, lắp sim điện thoại di động số 0337106574.

Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã trao trả 01 con chó cái, lông màu đen, mõm màu trắng, còn sống; 01 con chó đực lông màu vàng, chân màu lông trắng (đã chết); 01 con chó cái lông màu vàng - đen cho những bị hại Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo Tòng Văn T tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Tòng Văn T: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những bị hại: Tại phiên tòa ba bị hại Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/5/2025, Tòng Văn T khi được Trần Anh T rủ đi trộm chó đã đồng ý ngay và là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy, T đồng phạm với Trần Anh T giữ vai trò là người thực hành tích cực trong vụ án, vì vậy phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi phạm tội của mình là đã lợi dụng việc sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình bị hại Lò Thị B, Quàng Văn B và Lò Văn N lén lút trộm cắp 03 con chó có tổng khối lượng 38,6kg trị giá 2.509.000đ (Hai triệu năm trăm linh chín nghìn đồng), mục đích để bán kiếm lời, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La truy tố đối với bị cáo Tòng Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 24/8/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản. (Đã được xoá án tích) và Ngày 18/12/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong ngày 18/8/2022. (Đã được xoá tiền sự)

[5] Về Mức hình phạt: Bị cáo Tòng Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy đã từng đi cai nghiện bắt buộc và có 01 lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, trật tự công cộng tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong nhân dân, do đó cần áp dụng Điều 38 BLHS áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, xét thấy việc không yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự cần ghi nhận.

[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) hộp giấy cát tông, kích thước 52cm x 41cm x 11cm Các mép hộp được dán kín, được dán niêm phong bằng giấy niêm phong số 092313 và 092314 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, trên mặt giấy niêm phong có 02 dấu tròn Đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, có chữ ký, ghi họ tên của các thành phần tham gia niêm phong. Một mặt hộp dán giấy ghi chữ bên trong chứa: “Đồ vật, tài sản phát hiện thu giữ thuộc vụ việc Tòng Văn T có hành vi trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 12/05/2025”; 04 (bốn) cuộn băng dính màu Đen đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bao tải bằng vải, kẻ ô vuông màu đen - trắng, dài 1,45m, rộng 67cm. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, màu vàng, lắp sim điện thoại di động số 0337106574, xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Tòng Văn T.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với Trần Anh T, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú tại Khu 5, xã T, huyện L, tỉnh P (nay là khu 4, xã L, tỉnh P). Quá trình điều tra xác định Trần Anh T là người khởi xướng rủ Tòng Văn T cùng đi trộm chó, điều khiển xe mô tô đi trộm chó, cung cấp phương tiện, hướng dẫn T sử dụng súng tự chế bắn chó để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Trần Anh T giữ vai trò là người chủ mưu trong vụ án. Ngày 05/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ban hành Quyết định khởi tố bị can số 425/QĐ-VPCQCSĐT đối với Trần Anh T, đồng thời ban hành Lệnh bắt bị can để tạm giam số 1481/LB-VPCQCSĐT đã được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La phê chuẩn. Tuy nhiên, quá trình thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Anh T, bị can Trần Anh T hiện đang bỏ trốn, không rõ đang ở đâu. Do đó, ngày 08/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số 3360/QĐ-VPCQCSĐT tách hành vi trộm cắp tài sản của Trần Anh T, sau khi tiến hành bắt giữ được Trần Anh T sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với vật chứng gồm: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, SIRIUS, màu sơn đỏ - đen, đeo bên ngoài biển số đăng ký 36M8 - 8530 (bám dính nhiều bùn đất), đeo bên trong biển số đăng ký 26K1 - 242.61; 01 con dao bằng kim loại, chuôi dao và vỏ màu đen bằng nhựa, dài 30,2cm cả chuôi; phân lưỡi dao dài 12cm bản rộng nhất 06cm; 01 chiếc dũa bằng sắt màu nâu dài 15cm hai đầu cuốn bằng băng dính màu đen; 01 lọ keo 502, vỏ giấy màu trắng, lọ màu trắng tiếp tục tạm giữ tại Kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam khu vực Mai Sơn - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La để giải quyết theo vụ án của Trần Anh T.

Đối với Nguyễn Văn M (chủ nhà trọ Tòng Văn T thuê), Tòng Thị C (bạn gái của Tòng Văn T), Hà Thị L (bạn gái của Trần Anh T), quá trình điều tra xác định ba người trên không biết việc Tòng Văn T và Trần Anh T trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không đề cập đến vấn đề xử lý là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Văn V (Chủ quán mà các đối tượng mang chó đến bán), quá trình điều tra xác định Vĩnh không biết 03 con chó Trần Anh T và T mang đến bán là tài sản do trộm cắp mà có, Vĩnh chưa mua bán, tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không đề cập đến vấn đề xử lý là có căn cứ.

Đối với 01 con chó cái, lông màu đen, mõm màu trắng, còn sống; 01 con chó đực lông màu vàng, chân màu lông trắng (đã chết); 01 con chó cái lông màu vàng - đen, còn sống bị Tòng Văn T chiếm đoạt trái phép, Sau khi cân tịnh cơ quan chức năng đã trả lại ngay cho các bị hại Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B, xét là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/5/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận việc các bị hại Lò Văn N, Lò Thị B và Quàng Văn B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy cát tông, kích thước 52cm x 41cm x 11cm Các mép hộp được dán kín, được dán niêm phong bằng giấy niêm phong số 092313 và 092314 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, trên mặt giấy niêm phong có 02 dấu tròn Đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, có chữ ký, ghi họ tên của các thành phần tham gia niêm phong. Một mặt hộp dán giấy ghi chữ bên trong chứa: “Đồ vật, tài sản phát hiện thu giữ thuộc vụ việc Tòng Văn T có hành vi trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 12/05/2025”; 04 (bốn) cuộn băng dính màu Đen đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bao tải bằng vải, kẻ ô vuông màu đen - trắng, dài 1,45m, rộng 67cm.

Trả lại cho bị cáo Tòng Văn T 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, màu vàng, lắp sim điện thoại di động số 0337106574.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Tòng Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/9/2025).

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. [Nơi nhận:

Cỡ chữ