vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Huỳnh P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

[2]. Về Điều luật áp dụng: [3]. Về hình phạt: Xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS. Trần Huỳnh P (Đ341) - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Huỳnh P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1
TỈNH QUẢNG TRỊ
––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 08 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Thu

2. Ông Trần Công Bằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Trần Huỳnh P; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 26/6/2002 tại tỉnh Quảng Bình (nay là: tỉnh Quảng Trị); nơi ĐKNKTT/chỗ ở: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (nay là: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Quảng Trị); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Trần Tố Hữu, sinh năm 1973 và con bà: Trần Thị T, sinh năm 1975, hiện ông bà đều trú tại: Tổ dân phố T, phường Quảng L, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (nay là: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Quảng Trị); vợ: Cao Tuệ N, sinh năm 2002. con: có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Trần Huỳnh P bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/02/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo Giấy triệu tập của Tòa án.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Đình P; sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu học và thi lấy giấy phép lái xe hạng B2, khoảng tháng 8 năm 2020, Trần Huỳnh P, sinh ngày 26/6/2002 trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (nay là: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Quảng Trị) liên hệ với một người đàn ông tên T xưng là giáo viên dạy lái xe tại Trường Trung cấp nghề B. P gặp T tại một quán nước trước cổng của Trường Trung cấp nghề B ở xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là: xã Q, tỉnh Quảng Trị) nộp hồ sơ và số tiền 3.200.000đồng. Ngày 01/8/2020, Trường Trung cấp nghề B nhận hồ sơ đăng ký học lái xe ô tô hạng B2 và số tiền học phí 4.000.000 đồng của Trần Huỳnh P, đồng thời bố trí P nhập học vào khóa B2K51. Tuy nhiên, Trần Huỳnh P không tham gia học đầy đủ theo chương trình và cũng không hoàn thành học phí theo quy định nên nhà trường đã đưa P vào danh sách bỏ học và không có tên trong danh sách thi tốt nghiệp của khóa B2K51.

Tháng 01/2021, T gọi P đến trường và đưa cho P 01 (một) “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số 441216176782, hạng B2, họ tên Trần Huỳnh P, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú “Q, TX B, Quảng Bình”, (nay là: phường B, tỉnh Quảng Trị) do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình (nay là: tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 10/01/2021; 01 (một) chứng chỉ sơ cấp nghề và 01 (một) bản kết quả thi sát hạch.

Tháng 11/2024, P mang giấy phép này đến Công ty TNHH Dịch vụ tổng hợp P ở thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị) xin việc và được ông Dương Đình P– Giám đốc công ty nhận lái xe thử việc 2 tháng. Ngày 15/12/2024, P điều khiển xe tải ISUZU mang BKS 73C-136.23 giao hàng cho công ty từ Q, huyện Q (nay là: xã T, tỉnh Quảng Trị) đến huyện L trên đường QL1A tại Km 630+400 thuộc địa phận xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là: xã B, tỉnh Quảng Trị) thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) yêu cầu dừng xe lại kiểm tra vì lỗi chạy quá tốc độ thì P xuất trình cho tổ công tác giấy tờ, trong đó có giấy phép lái xe hạng B2 giả.

Kết luận giám định số 01/KL - KTHS ngày 17/12/2024 và số 207/KL-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số 441216176782, hạng B2, họ tên Trần Huỳnh P, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú “Q, TX B, Quảng Bình” (nay là: phường B, tỉnh Quảng Trị), do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 10/01/2021 là giả.

* Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch thu giữ 01 (một) “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số 441216176782, hạng B2, họ tên Trần Huỳnh Phúc, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú “Q, TX B, Quảng Bình”, do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 10/01/2021, chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKSBT ngày 24/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là: Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị) đã truy tố Trần Huỳnh P về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1, Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh:Tuyên bố bị cáo Trần Huỳnh P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Biện pháp tư pháp: Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Huỳnh P.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số 441216176782, hạng B2, họ tên Trần Huỳnh P, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú “Q, TX B, Quảng Bình” (nay là phường B, tỉnh Quảng Trị), do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 10/01/2021, chuyển theo hồ sơ vụ án.

Ý kiến sau cùng của bị cáo Trần Huỳnh P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp và cải tạo tại địa phương để cải tạo sớm trở về giúp đở gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai được cơ quan điều tra tiến hành thu thập theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Huỳnh P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản vi phạm hành chính số 001672/BB

- VPHC do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Quảng Bình (nay là: Công an tỉnh Quảng Trị) lập lúc 12 giờ 50 phút ngày 15/12/2024, phù hợp với lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi và tranh tụng công khai tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 15/12/2024 tại Km 630 + 400m đường QL1A thuộc địa phận xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là: xã B, tỉnh Quảng Trị), để đối phó với việc kiểm tra của Tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị), Trần Huỳnh P đã sử dụng 01 (một) “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số 441216176782, hạng B2, họ tên Trần Huỳnh P, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú “Q, TX B, Quảng Bình” (nay là: phường B, tỉnh Quảng Trị), do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 10/01/2021. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Huỳnh P đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa về tội danh và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị) đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. HĐXX nhận thấy:

Hành vi của bị cáo Phúc nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới khách thể của tội phạm là trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương được quy định là tội phạm trong Bộ luật Hình sự. Nên cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính:

Trên cơ sở những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử cân nhắc, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân khách quan, yếu tố chủ quan, tính nhân đạo của pháp luật để quyết định hình phạt đảm bảo tính giáo dục và trừng trị mang tính thuyết phục đối với bị cáo.

Theo đó, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú và có lý lịch rõ ràng, phạm vào loại tội ít nghiêm trọng. Do đó, cần đánh giá xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần nào về hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đã có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này. Điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số 441216176782, hạng B2, họ tên Trần Huỳnh P, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú “Q, TX B, Quảng Bình” (nay là: phường B, tỉnh Quảng Trị), do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 10/01/2021 là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cần tiếp tục được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về các tình tiết khác:

Liên quan trong vụ án, ông Dương Đình P là người nhận P vào Công ty TNHH dịch vụ tổng hợp P lái xe nhưng ông P không biết giấy phép lái xe mà P đưa là giả, nên không có căn cứ xử lý.

Theo lời khai của P thì P đã liên hệ với một người đàn ông tên T, tự xưng là giáo viên của Trường Trung cấp nghề B để làm các thủ tục hồ sơ nhập học và thi tốt nghiệp, nhận giấy phép lái xe hạng B2, nhưng do không xác định được thông tin của người này nên không có căn cứ xử lý.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị về các căn cứ pháp luật, tội danh, đề xuất xử lý vật chứng và án phí là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận. Riêng về quan điểm đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có phần nhẹ, nên không được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Trần Huỳnh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Huỳnh P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

[2]. Về Điều luật áp dụng:

Áp dụng khoản 1, Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50; Điều 65 và Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[3]. Về hình phạt: Xử phạt:

Bị cáo Trần Huỳnh P 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/8/2025).

Giao các bị cáo Trần Huỳnh Phúc cho Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Quảng Trị để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 của Luật thi hành án hình sự.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số 441216176782, hạng B2, họ tên Trần Huỳnh P, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú “Q, TX Ba Đồn, Quảng Bình” (nay là: phường B, tỉnh Quảng Trị), do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 10/01/2021 là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

[6]. Về án phí:

Buộc bị cáo Trần Huỳnh P phải chịu 200.000 đồng (bằng chữ: hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/8/2025). Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ