- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Th - H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Văn Thị Thanh Th
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ- ST Ngày: 22/8/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Thị Hạnh;
2/ Bà Huỳnh Thị Thùy Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 22/8/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 185/2024/TLST- HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 30/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST – HNGĐ ngày 28/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Văn Thị Thanh Th, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ dân phố Hưng Long, phường S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Lê H, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ dân phố Vĩnh B, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
(Nguyên đơn có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2024 và các lời khai tại Tòa nguyên đơn là chị Văn Thị Thanh Th trình bày: Chị và anh Huỳnh Lê H yêu thương và tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ph vào năm 2024. Sau khi kết hôn được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên đã hòa giải, khuyên nhủ nhiều lần những không được, giữa anh chị mâu thuẫn ngày càng lớn do không cùng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vả. Nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Huỳnh Lê H.
Về con chung: Chị Th trình bày trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chị có một con chung Huỳnh Ngọc Duy Kh, sinh ngày 15/10/2024 hiện nay chị đang nuôi con, khi ly hôn chị yêu cầu Tòa án giao con cho chị nuôi và không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Huỳnh Lê H: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H nhưng anh H không đến Tòa, không trình bày ý kiến.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật; riêng bị đơn thực hiện không đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX cho chị Th được ly hôn anh H; về con chung: Giao con chung Huỳnh Ngọc Duy Kh, sinh ngày 15/10/2024 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: Không có. Chị Th phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Văn Thị Thanh Th khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Huỳnh Lê H; cư trú tại: Tổ dân phố Vĩnh B, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là anh Huỳnh Lê H các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 175 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù, anh H biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn mà anh là bị đơn nhưng anh vắng mặt và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Anh H phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn là chị Văn Thị Thanh Th có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Huỳnh Lê H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Văn Thị Thanh Th và anh Huỳnh Lê H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phổ N (Nay là phường Đức Phổ) vào năm 2024. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh H là hợp pháp.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị Th cho rằng, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc cho anh chị do bất đồng quan điểm sống dẫn đến giữa anh chị thường xuyên cãi vả. Chị Th yêu cầu ly hôn nhưng anh H không đến Tòa và không có ý kiến gì, có ý bỏ mặc. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của chị Th và anh H đã trở nên trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Th là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Th và anh H có một con chung Huỳnh Ngọc Duy Kh, sinh ngày 15/10/2024. Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. HĐXX xét thấy: Con Huỳnh Ngọc Duy Kh còn nhỏ, chị Thúy đang nuôi con ổn định; trong khi đó, anh H không có ý kiến về phần con chung. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần giao con Huỳnh Ngọc Duy Kh, sinh ngày 15/10/2024 cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng là hợp pháp và hợp lý.
Về yêu cầu cấp dưỡng cho con: Chị Th không yêu cầu anh Hiệu phải cấp dưỡng cho con nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th trình bày không có, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, chị Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 227, 228, 235, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Văn Thị Thanh Th
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Văn Thị Thanh Th được ly hôn anh Huỳnh Lê H.
2. Về con chung: Giao con Huỳnh Ngọc Duy Kh, sinh ngày 15/10/2024 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Th không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho con.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Chị Văn Thị Thanh Th phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004716 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 6 – Quảng Ngãi) nên được khấu trừ xong.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND KV6 – Quảng Ngãi;
- Phòng THADS KV 6 – Quảng Ngãi;
- UBND phường Đ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Bích Vân
Các thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND thị xã Đức Phổ; - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ; - Các đương sự; - UBND xã Phổ Nhơn - Lưu hồ sơ vụ án. Các thành viên Hội đồng xét xử tòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Vân Thẩm phán - Chủ tọa phiên |