vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sùng Seo V.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Sùng Seo V được ly hôn với với bà Lý Thị D. Quan hệ về con cái: Giao con Sùng Thị S sinh ngày 12/10/2012 và Sùng Seo Q sinh ngày 11/01/2015 cho ông Sùng Seo V trực tiếp nuôi con, đến khi con đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ-ST"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sùng Seo V.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
ngày 16/6/2025
V/v: Ly hôn, nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thường; Bà Lê Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.

- Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 79/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2025/QĐST - HNGĐ ngày 10/6/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Sùng Seo V sinh năm 1984. Địa chỉ: Buôn C, xã C, huyện K, tỉnh Đ. Ông V có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Lý Thị D sinh năm 1993. Địa chỉ: Buôn C, xã C, huyện K, tỉnh Đ. Bà D vắng mặt (Bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Sùng Seo V trình bày:

Tôi và bà Lý Thị D tự nguyện chung sống từ đầu năm 2011 và được tổ chức đám cưới theo phong tục. Ngày 21/11/2012 chúng tôi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đ. Chúng tôi chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 bà D có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác, bị tôi bắt gặp, tôi có tha thứ hai lần nhưng bà D vẫn không thay đổi. Tôi đi làm ăn xa nhà, bà D vẫn chứng nào tật đó, bản chất không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tôi và bà D không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2025 đến nay, mỗi người làm ăn một nơi, không quan tâm gì đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà D.

Về con chung: Tôi và bà D có 02 con chung là Sùng Thị S sinh ngày 12/10/2012 và Sùng Seo Q sinh ngày 11/01/2015, từ khi bà D bỏ nhà ra đi, tôi là người trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được quyền nuôi cả 02 con đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), tôi không yêu cầu bà D phải cấp dưỡng nuôi con cho tôi.

Về tài sản chung của vợ chồng, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại bản tự khai, bị đơn bà Lý Thị D trình bày:

Bà D và ông Sùng Seo V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C. Quá trình chung sống với nhau hơn 13 năm tương đối êm ấm, hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không giải quyết được, dẫn tới cãi vã nhau, không còn tiếng nói chung, hiện nay bà D và ông V đang sống ly thân. Xét thấy, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, nay ông V làm đơn ly hôn với bà D, bà D đồng ý ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà D và ông V có 02 con chung là Sùng Thị S sinh ngày 12/10/2012 và Sùng Seo Q sinh ngày 11/01/2015. Khi ly hôn, bà D đồng ý giao cả 02 con cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung của vợ chồng, bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; Xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; Việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của BLTTDS.

- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sùng Seo V, xử cho ông Sùng Seo V được ly hôn với bà Lý Thị D; Giao con Sùng Thị S sinh ngày 12/10/2012 và Sùng Seo Q sinh ngày 11/01/2015 cho ông Sùng Seo V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi; Ông Sùng Seo V được miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:

Về tố tung:

Nguyên đơn ông Sùng Seo V khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, đây là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn bà lý Thị D có nơi cư trú tại huyện Krông Bông. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của BLTTDS. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.

Bị đơn bà Lý Thị D vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS, việc xét xử vẫn được tiến hành.

Về nội dung:

Quan hệ về hôn nhân: Ông V và bà D tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 21/11/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã C. Quan hệ hôn nhân giữa ông V và bà D là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống, do bất đồng trong lối sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Ông V và bà D không chung sống với nhau từ đầu năm 2025 đến nay, mỗi người sinh sống một nơi, không còn có sự thương yêu, chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ông V bà D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V, xử cho ông V được ly hôn với bà D.

Về con cái: Ông V và bà D có 02 con chung là Sùng Thị S sinh ngày 12/10/2012 và Sùng Seo Q sinh ngày 11/01/2015. Để đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, HĐXX cần xem xét điều kiện, hoàn cảnh của ông V và bà D, để giao con cho ai nuôi là phù hợp. Từ khi ông V và bà D không chung sống với nhau, ông V là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con; Bà D đồng ý giao con cho ông V trực tiếp nuôi; Cháu S và cháu Q cũng có nguyện vọng được ông V trực tiếp nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật. Nên cần giao con Sùng Thị S và Sùng Seo Q cho ông V trực tiếp nuôi con, đến khi con đủ 18 tuổi. Ông V không yêu cầu bà D phải cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung của vợ chồng: Ông V và bà D không yêu cầu Toà án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Ông Sùng Seo V phải chịu 300.000đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Tuy nhiên, ông V là người dân tộc thiểu số (H Mông) sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn tiền án phí Dân sự. Nên ông V được miễn toàn bộ tiền án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sùng Seo V.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Sùng Seo V được ly hôn với với bà Lý Thị D.

2. Quan hệ về con cái: Giao con Sùng Thị S sinh ngày 12/10/2012 và Sùng Seo Q sinh ngày 11/01/2015 cho ông Sùng Seo V trực tiếp nuôi con, đến khi con đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Ông Sùng Seo V được miễn toàn bộ án tiền án phí DSST về Hôn nhân và gia đình.

4. Thông báo Q kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ