vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc O về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” đối với ông Nguyễn Quốc V.

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc O được ly hôn với ông Nguyễn Quốc V. Về quyền nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Ngọc O Ly hôn Nguyễn Quốc V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc O về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” đối với ông Nguyễn Quốc V.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-7-2025
“Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng;

2. Ông La Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bình Em –Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh.

Ngày 21 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 174/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc O, sinh năm 1989;

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh (trước đây là Tổ A, ấp B, xã T, huyện X, tỉnh Tây Ninh).

Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1983;

Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, tỉnh Tây Ninh (trước đây là Ấp A, xã B, huyện N, tỉnh Long An).

(Bà O, ông V có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/02/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc O trình bày tóm tắt như sau:

Bà với ông Nguyễn Quốc V chung sống với nhau không có tổ chức đám cưới từ năm 2021 đến tháng 11/2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện N, tỉnh Long An vào ngày 07 tháng 4 năm 2022. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó vì nhiều bất đồng trong quan điểm sống nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến này. Nay bà O xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà O và ông V có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/4/2022. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc O xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc O xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Quốc V có ý kiến trình bày:

Ông V thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Thị Ngọc O về thời gian chung sống, kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông không đồng ý ly hôn với bà O.

Về nuôi con chung: Ông V xác định quá trình chung sống ông V và bà O có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/4/2022. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì do ông có điều kiện nuôi con chung tốt hơn nên ông yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông V xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông V xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được nên Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc O không rút, bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện, vẫn giữ các yêu cầu và ý kiến trình bày. Bị đơn ông V trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với bà O, yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Huỳnh Thị Ngọc O khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc V. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc O và ông Nguyễn Quốc V có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện N, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/4/2022 (Giấy đăng ký số 46/2022) nên quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Ngọc O và ông Nguyễn Quốc V là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Ngọc O đối với ông Nguyễn Quốc V, thấy rằng: Bà O trình bày cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vì nhiều bất đồng trong quan điểm sống nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn, bà và ông V đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay nên bà yêu cầu được ly hôn với ông V. Tại phiên tòa, bà O vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn và ông V cũng đồng ý ly hôn với bà O. Xét thấy, hai bên hiện đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn thiết tha vun đắp cuộc sống chung của vợ chồng để cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà O và ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Ngọc O.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà O và ông V xác định có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/4/2022. Xét thấy, cháu Minh Khôi hiện do bà O đang nuôi dưỡng. Ông V trình bày ông có điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng con chung tốt hơn và có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con. Xét bà O cũng có mức thu nhập và chỗ ở ổn định để tiếp tục nuôi dưỡng cháu Khôi, hơn nữa tại phiên tòa ông V trình bày từ khi ông và bà O sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay thì cháu Minh Khôi sống cùng bà O và cháu vẫn phát triển bình thường. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của cháu, nên căn cứ vào Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Minh Khôi cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng sau khi bà O và ông V ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà O không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện và phù hợp với các Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận không xem xét.

Về tài sản chung: Bà O và ông V xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà O và ông V xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc O phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc O về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” đối với ông Nguyễn Quốc V.

1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc O được ly hôn với ông Nguyễn Quốc V.

2. Về quyền nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/4/2022.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà O không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung: Bà O và ông V xác định không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà O và ông V xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010009 ngày 14/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Tây Ninh) sang án phí để thi hành. Bà Huỳnh Thị Ngọc O đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ