vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Vũ Hồng Q và chị Lê Thị L.

Về con chung: anh Q, chị L không có con chung nên tòa án không giải quyết. Về tài sản, công nợ chung: anh Q, chị L không yêu cầu nên tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị L và Vũ Hồng Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Vũ Hồng Q và chị Lê Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 9 -2025
V/v: ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Duy Quyết

ông Hà Xuân Ninh

- Thư ký phiên tòa: bà Giang Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/5/2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/8/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Lê Thị L, sinh ngày 12/7/2000, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, nơi cư trú: thôn Q, xã T, tỉnh Thanh Hóa (địa chỉ cũ: thôn Quyết Thắng, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa), có mặt.

2. Bị đơn: anh Vũ Hồng Q, sinh ngày 22/11/1985, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, nơi cư trú: xóm 4, xã G, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ: xóm 4, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình), vắng mặt.

Người làm chứng: ông Vũ Công H, sinh ngày 01/01/1962, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, nơi cư trú: xóm 4, xã G, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ: xóm 4, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/04/2025, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Lê Thị L trình bày: chị và anh Vũ Hồng Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình vào ngày 30/8/2022 sau đó chung sống cùng gia đình bố mẹ anh Q tại xóm 4, xã Gia Hưng. Vợ chồng hòa thuận được khoảng 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, anh Hưng hay rượu chè về gây sự với chị và thêm nữa là khó khăn trong việc có con chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất hòa, cãi chửi nhau, thậm chí đánh nhau. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Gần 02 năm nay, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Quyết Thắng, xã Trường Lâm, tỉnh Thanh Hóa sinh sống và ly thân với anh Q. Đề nghị tòa án cho chị được ly hôn với anh Q. Giữa chị và anh Q không có con chung. Về tài sản chung, công nợ chung chị không đề nghị tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn - anh Vũ Hồng Q: tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và tiến hành triệu tập, thông báo cho anh Q nhiều lần nhưng anh Q không đến tòa án làm việc và không có ý kiến gửi tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến người làm chứng - ông Vũ Công Hiến (là bố đẻ của anh Q): chị L và anh Q tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2022. Sau khi kết hôn thì chung sống cùng gia đình ông tại xóm 4, xã Gia Hưng, tỉnh Ninh Bình được khoảng hơn 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn, một phần do tính cách anh Q và chị L khác nhau, một phần do anh Q, chị L không có con chung. Gia đình ông cũng đã động viên 02 vợ chồng nhưng chị L tự ý bỏ đi khỏi nhà ông từ cuối năm 2023, không liên lạc hay quan tâm gì, sống ly thân với anh Q. Gia đình ông biết chuyện chị L muốn ly hôn anh Q do anh Q nói lại. Anh Q cũng có nói với ông là anh Q đồng ý ly hôn với chị L và sẽ bố trí thời gian lên giải quyết ly hôn với chị L để còn tính việc tương lai (lấy vợ khác). Đến nay, vợ chồng Q, chị L không có con chung, không có tài sản chung. Ông cũng nhất trí để tòa án giải quyết cho chị L ly hôn anh Q. Ông đã chuyển các thông báo, triệu tập của tòa án cho anh Q, còn tại sao anh Q không lên tòa án để giải quyết thì ông không biết.

Tại biên bản làm việc của tòa án, đại diện Ủy ban nhân dân xã Gia Hưng, tỉnh Ninh Bình cho biết: anh Vũ Hồng Q là người địa phương, có đăng ký kết hôn với chị Lê Thị L tại Ủy ban nhân dân xã ngày 30/8/2022 và chung sống với nhau tại xóm 4, xã Gia Hưng. Khoảng hơn một năm nay, chị L đã chuyển nơi đăng ký thường trú và bỏ về sinh sống ở quê chị L ở thôn Quyết Thắng, xã Tân Trường, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng anh Cương, chị Thơm không có con chung. Anh Cương, chị Thơm có mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không biết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu: trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán, thư ký tòa án, hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có mặt khi tòa án triệu tập là chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử: cho ly hôn giữa anh Q và chị L; buộc chị L phải nộp án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, bị đơn, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: quan hệ hôn nhân giữa anh Q và chị L là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Anh Q đã được thông báo về yêu cầu khởi kiện của chị L, đã được triệu tập nhiều lần nhưng không có ý kiến và không đến tòa án để làm việc cho thấy bản thân anh Q không quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa anh và chị L, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Lời khai của chị L và ông Hiến cho thấy: quá trình chung sống, vợ chồng anh Q, chị L đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và khó khăn trong việc sinh con dẫn đến anh Q, chị L sống ly thân với nhau, không còn tình nghĩa vợ chồng. Do vậy, cần xác định mâu thuẫn giữa anh Q, chị L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, cần chấp nhận yêu cầu của chị L về việc ly hôn với anh Q theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung; tài sản, công nợ chung: anh Q, chị L không có con chung; không có yêu cầu giải quyết tài sản chung, công nợ chung khi ly hôn nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: chị L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Vũ Hồng Q và chị Lê Thị L.

2. Về con chung: anh Q, chị L không có con chung nên tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản, công nợ chung: anh Q, chị L không yêu cầu nên tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: chị L phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000854 ngày 14/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Viễn. Chị L đã nộp đủ.

Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ