- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào Điều 56; 122; 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân & Gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 8 - 2025 V/v “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Dũng - ông Hoàng Công Hải
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Trung - Chức vụ: Thư ký TAND khu vực 3 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An: Không tham gia:
Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số: 50/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025 về Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: xóm 1, xã Diễn Hải (nay là xã Hải Châu), tỉnh Nghệ An
- Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc D, sinh năm 1985;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm Vạn Thọ, xã Diễn Mỹ (nay là xã Hải Châu), tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: CHIBAKEN CHIBASHI WAKABAKU TSUGA 5CHOUME 22BAN 1GO DORI-MUTAUN A103 – NHẬT BẢN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày: Chị và anh Hoàng Ngọc D trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau tự nguyện làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 25/8/2022 tại UBND xã Diễn Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn chị sang Nhật Bản cùng anh D sinh sống được khoảng một năm rưỡi thì chị về nước, trong thời gian chung sống ở Nhật Bản vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do 2 bên không có tiếng nói chung, ghen tuông nên dẫn đến rạn nứt tình cảm nên chị về nước còn anh D ở lại. Nay chị xác định hai bên không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.
-Về con chung: Chị và anh D chưa có con chung
-Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có chứng nhận Hợp pháp hoá lãnh sự của Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản) bị đơn anh Hoàng Ngọc D trình bày: Anh được biết việc chị Nguyễn Thị O nộp đơn tại Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An sau đó chuyển thẩm quyền về Toà án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An. Anh đã nhận được các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc ly hôn cũng như Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Toà án khu vực 3 tống đạt cho mẹ đẻ của anh là bà Nguyễn Thị Lê. Anh thừa nhận về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như chị O trình bày. Anh và chị Nguyễn Thị O trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau tự nguyện và làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 25/8/2022 tại UBND xã Diễn Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng nhau tại Nhật Bản nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì có nhiều mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân là do vợ chông thiếu tin tưởng lẫn nhau, bất đồng về quan điểm sống. Đến khi chị O về nước thì khoảng cách địa lý sống xa nhau khiến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và không thể tìm được tiếng nói chung. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau. Nay, chị O làm đơn ly hôn anh hoàn toàn đồng ý để hai bên được giải phóng.
-Về con chung: Anh và chị O chưa có con chung.
-Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn với chị O nên anh làm đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đồng thời đề nghị Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân & Gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; chị O nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Hoàng Ngọc D hiện đang cư trú tại Nhật Bản, trước khi xuất cảnh anh D có địa chỉ cư trú tại xóm Vạn Thọ, xã Diễn Mỹ (nay là xã Hải Châu), tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An theo Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 và theo Nghị quyết số: 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Nghị quyết số 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân;
-Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị O có mặt, bị đơn anh Hoàng Ngọc D đã gửi bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt được chứng thực tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Hoàng Ngọc D kết hôn vào ngày 25/8/2022 tại UBND xã Diễn Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An). Hôn nhân giữa chị O và anh D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ theo quy định của định pháp luật. Do đó hôn nhân giữa chị O và anh D là hôn nhân hợp pháp.
-Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị O nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, sống thiếu tin tưởng và không quan tâm đến nhau. Hiện tại, chị O xin ly hôn anh D đồng ý ly hôn vì anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đều thống nhất ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình cảm giữa chị O và anh D đã thực sự không còn, 2 bên không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng.
Xét mâu thuẫn giữa chị O và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân & Gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O. Cho chị O được ly hôn với anh D.
. Về con chung: Chị O và anh D chưa có con chung nên miễn xét.
. Về tài sản chung và nợ chung: Chị O và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O tự nguyện một mình chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào Điều 56; 122; 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân & Gia đình;
Căn cứ khoản 3 Điều 35; Điều 147; 207; 228; 273; 469; 478 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Nghị quyết số: 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân nhân và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
[2]. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị O
-Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Hoàng Ngọc D.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O tự nguyện chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị O đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000467 ngày 23/7/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị O đã nộp đủ án phí
[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
THTHÀÀNNHH VVIIÊÊNN
TTHHẨẨMM PPHHÁÁNN
HỘHỘII ĐĐỒỒNNGG XXÉÉTT XXỬỬ
CCHHỦỦ TTỌỌAA PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA NgNguuyyễễnn VVăănn DDũũnngg
HHooàànngg CCôônngg HHảảii
LLêê TThhịị NNhhuunngg
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 3; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã Hải Châu; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Nhung |