vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị C được ly hôn với anh Lò Văn D.

Về con chung: Chị Cà Thị C và anh Lò Văn D có 02 con chung: Cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013; cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn giữa chị Cà Thị C + anh Lò Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị C được ly hôn với anh Lò Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 01 - 8 - 2025.
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lường Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Ngọc Thiệp;

Bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 199/2025/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cà Thị C; địa chỉ: Bản T, xã TC, tỉnh Sơn La (trước là Bản T, xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). (Vắng mặt).

Bị đơn: Anh Lò Văn D; địa chỉ: Bản T, xã TC, tỉnh Sơn La (trước là Bản T, xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/5/2025, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Cà Thị C trình bày:

Về tình cảm: Chị Cà Thị C và anh Lò Văn D kết hôn với nhau từ ngày 16/9/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Ngàm , huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã Nong Lay, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống, chị Cà Thị C và anh Lò Văn D đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay chị Cà Thị C đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Cà Thị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Cà Thị C yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn D.

Về con chung: Chị Cà Thị C và anh Lò Văn D có 02 con chung: Cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013; cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017. Nay ly hôn chị Cà Thị C yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017 và tự nguyện giao cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013 cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cà Thị C không yêu cầu anh Lò Văn D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Cam đoan không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lò Văn D, anh Lò Văn D không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Do vậy không có lời khai của anh Lò Văn D đối với yêu cầu khởi kiện của chị Cà Thị C.

Biên bản xác minh ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về tình trạng hôn nhân của chị Cà Thị C và anh Lò Văn D: Chị Cà Thị C và anh Lò Văn D từ ngày 16/9/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Ngàm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã Nong Lay, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tính chính quyền địa phương không nắm được. Hiện nay chị Cà Thị C và anh Lò Văn D đã sống ly thân từ lâu.

Ý kiến của các cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013 là con chung của chị Cà Thị C, anh Lò Văn D: Nguyện vọng của cháu muốn được ở cùng anh Lò Văn D (bố đẻ của cháu).

Ý kiến của cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017 là con chung của chị Cà Thị C, anh Lò Văn D. Nguyện vọng của cháu muốn được ở cùng chị Cà Thị C (mẹ đẻ của cháu).

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn chị Cà Thị C nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác. Bị đơn anh Lò Văn D vắng mặt không có lý do.

Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 27/6/2025 nguyên đơn chị Cà Thị C trình bày do bận công việc, nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, chị Cà Thị C đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của chị Cà Thị C về việc giải quyết vụ án: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn D; về con chung có 02 con chung: Cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013; cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017 và tự nguyện giao cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013 cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Không yêu cầu anh Lò Văn D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Nợ chung: Cam đoan không có.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Cà Thị C đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lò Văn D đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Cà Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, 228 BLTTDS; Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị C được ly hôn với anh Lò Văn Doan.

Về con chung: Giao cháu Lò Thanh H (sinh ngày: 06/8/2013) cho anh Lò Văn D và giao cháu Lò Thanh H1 (sinh ngày: 06/8/2017) cho chị Cà Thị C chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở, gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văn D, chị Cà Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, riêng: Không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Cà Thị C được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (Là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Cà Thị C khởi kiện ly hôn với bị đơn anh Lò Văn D có địa chỉ tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã TC, tỉnh Sơn La). Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La) thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH 15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án.

Nguyên đơn chị Cà Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh Lò Văn D vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Cà Thị C, bị đơn anh Lò Văn D.

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Cà Thị C và anh Lò Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Ngàm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã Nong Lay, tỉnh Sơn La) vào ngày 16/9/2013, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành. Hiện nay chị Cà Thị C và anh Lò Văn D đã sống ly thân. Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại chính quyền địa phương xác nhận chị Cà Thị C và anh Lò Văn D có phát sinh mâu thuẫn và hiện nay chị Cà Thị C và anh Lò Văn D đã sống ly thân. Anh Lò Văn D đã được Toà án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai và hoà giải, anh Lò Văn D không có mặt, do vậy Toà án không có lời khai và không tiến hành hoà giải được, điều này chính tỏ anh Lò Văn D không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Cà Thị C và anh Lò Văn D tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Cà Thị C được ly hôn với anh Lò Văn D. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung:

Chị Cà Thị C và anh Lò Văn D có 02 con chung: Cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013; cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017. Chị Cà Thị C yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017 và tự nguyện để cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013 cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.

HĐXX xét thấy: Nguyện vọng của cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013 muốn ở cùng anh Lò Văn D, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh Lò Văn D không có mặt tại Toà án để trình bày lời khai, trình bày ý kiến về việc nuôi con chung, nên không có căn cứ để giao con cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên, cần giao cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013 và cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017 cho chị Cà Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dương, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Cà Thị C không yêu cầu anh Lò Văn D phải cấp dưỡng nuôi con chung, cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn anh Lò Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

. Về nợ chung: Cam đoan không có.

. Về án phí: Chị Cà Thị C là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Miễn nộp toàn bộ án phí dân sư sơ thẩm cho chị Cà Thị C. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH 15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị C được ly hôn với anh Lò Văn D.

2. Về con chung:

Chị Cà Thị C và anh Lò Văn D có 02 con chung: Cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013; cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017.

Giao cháu Lò Thanh H, sinh ngày 06/8/2013; cháu Lò Thanh H1, sinh ngày 06/8/2017 cho chị Cà Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng: Anh Lò Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Về nợ chung: Không có.

6. Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Cà Thị C.

7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Cà Thị C; bị đơn anh Lò Văn D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ