- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ksơr Hờ H. Chị Ksơr Hờ H ly hôn với anh Lê Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2025 V/v xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Ka Sô Bách Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hồng Thái;
2. Bà Trần Thị Thuý.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 33/2025/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ksơr Hờ H, sinh năm 1996; trú tại: Buôn M, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Bị đơn: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1990; trú tại: Đ, thôn A, xã H, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn đề ngày 05 tháng 8 năm 205 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ksơr Hờ H trình bày: Về hôn nhân: Chị Hờ H và anh Lê Thanh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định (nay là xã H, tỉnh Gia Lai) vào ngày 08 tháng 12 năm 2022. Vợ chồng chị Hờ H, anh T không nhập khẩu chung, anh T đi làm xa thiếu quan tâm cả về tinh thần lẫn vật chất dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Ngoài ra, anh T có khoản nợ cá nhân không cho chị H1 H biết, khi chị Hờ H hỏi thì anh T không giải thích và cho rằng chị Hờ H xâm phạm quyền riêng tư nói lời xúc phạm, đe doạ làm tổn thương chị Hờ H nên sống ly thân từ năm 2024 đến nay không ai quan tâm chăm sóc ai. Vì vậy, chị Hờ H xin ly hôn với anh Lê Thanh T. Chị Hờ H và anh T chung sống không có con chung và không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.
Quá trình Tòa án giải quyết, bị đơn anh T trình bày: Về hôn nhân, con chung đúng như chị Hờ H trình bày. Quá trình chung sống thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, lạnh nhạt. Hiện vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T đồng ý ly hôn với chị Ksơr Hờ H. Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung, không có tài sản và nợ chung nên anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Hờ H giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh T, con chung, tài sản và nợ chung không có. Quá trình giải quyết vụ án anh T trình bày đồng ý ly hôn với chị Hờ H, không có con chung, tài sản chung và nợ chung và đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt do công việc ở xa, điều kiện kinh tế khó khăn nên không thể trực tiếp tham dự phiên toà được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thẩm quyền:
Chị Ksơr Hờ H có đơn đề nghị tòa án giải quyết việc hôn nhân của chị và anh Lê Thanh T, sinh năm 1990 quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định là quan hệ tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Tân trú tại: Đ, thôn A, xã H, tỉnh Gia Lai, chị Hờ H, anh T có văn bản thoả thuận chọn Toà án nơi chị Hờ H cư trú để giải quyết ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về tố tụng dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà anh Lê Thanh T đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng anh Lê Thanh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hờ H và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định (nay là xã H, tỉnh Gia Lai) vào ngày 08 tháng 12 năm 2022 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Tại phiên toà, chị Hờ H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng không thấu hiểu, không quan tâm, và có những lời nói, hành vi xúc phạm nhau. Anh T cho rằng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được và đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Như vậy, xét vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn tình cảm, không thể hàn gắn chung sống và anh T thống nhất ly hôn với chị Hờ H. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 ghi nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Ksơr Hờ H và anh Lê Thanh T.
Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ksơr Hờ H. Chị Ksơr Hờ H ly hôn với anh Lê Thanh T.
2. Về con chung: Không có
3. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Ksơr Hờ H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002793 ngày 14/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Đương sự; - VKSND khu vực 15-Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - UBND xã Hoài Ân, tỉnh Gia Lai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Ka Sô Bách |