vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị H ly hôn ông Nguyễn Đình N.

Về con chung: Không xem xét, giải quyết do nguyên đơn không có yêu cầu. Về quan hệ tài sản (tài sản chung và nợ chung): Không xem xét, giải quyết do nguyên đơn không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H và Nguyễn Đình N - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị H ly hôn ông Nguyễn Đình N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 0
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19-8-2025
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 0, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bá Khuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Vấn.

2. Ông Đào Danh Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-DS, ngày 30 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 0, ấp 0, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu (nay là tổ 0, ấp 0, xã X, thành phố Hồ Chí Minh).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1967 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 000A/0 NTL, phường 00, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (nay là 000A/0 NTL, phường B, thành phố Hồ Chí Minh); nơi ở hiện tại: Tổ 0, ấp 0, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu (nay là tổ 0, ấp 0, xã X, thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Đình N tự nguyện tìm hiểu, yêu thương, chung sống với nhau vào năm 2005, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo giấy chứng nhận kết hôn số 0000/2005, ngày 21/7/2005 (nay là Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong mọi vấn đề của cuộc sống hằng ngày. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần tự hòa giải và thông cảm bỏ qua cho nhau những mâu thuẫn để cùng xây dựng hạnh phúc, nuôi dạy con chung; gia đình hai bên nội ngoại cũng khuyên can, hàn gắn nhưng không thành. Trái lại, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể khắc phục được nên sau khi bà H sinh con được khoảng 06 tháng thì ông N tự ý rời gia đình đến nơi khác sinh sống. Vợ, chồng chính thức ly thân từ đó cho đến nay và không còn quan hệ gì với nhau về mọi mặt. Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà H yêu cầu được ly hôn với ông N.

- Về con chung: Bà H khẳng định, giữa bà và ông N có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 16/6/2005. Nay, con đã thành niên, không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình nên không yêu cầu giải quyết.

- Về quan hệ tài sản: Bà H tự xác nhận giữa bà và ông N không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Đình N:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông N vẫn không đến Tòa án tham gia giải quyết. Tòa án cũng không nhận được văn bản ghi ý kiến của ông N đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như không nhận được tài liệu, chứng cứ kèm theo và yêu cầu phản tố (nếu có).

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp:

Trích lục kết hôn (bản sao) số 00/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp ngày 03/3/2025 (nay là Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Hồ Chí Minh); giấy khai sinh mang tên Nguyễn Ngọc S (bản sao); căn cước công dân bà H (bản sao) và xác nhận thông tin về cư trú của bà H (bản chính).

Tài liệu, chứng cứ do Tòa án xác minh, thu thập:

Biên bản xác minh ngày 09/6/2025 tại nơi cư trú của bà H và ông N thể hiện: Ông N hiện đang cư trú tại tổ 0, ấp 0, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu (nay là tổ 0, ấp 0, xã X, thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình chung sống tại đây, giữa bà H và ông N có xảy ra mâu thuẫn nhưng địa phương không rõ nguyên nhân của mâu thuẫn, chỉ biết sau khi bà H sinh con được khoảng 06 tháng thì ông N tự ý bỏ nhà đi nơi khác (vẫn thuộc tổ 0, ấp 0) sinh sống. Hiện tại, chỉ có bà H và người con chung đang ở tại địa chỉ trên.

Tại phiên tòa:

Ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Các đương sự không có thỏa thuận gì về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án và không có đương sự nào cung cấp thêm tại liệu, chứng cứ mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn đối với ông N, được xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”. Ông N có địa chỉ cư trú tại huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là xã X, thành phố Hồ Chí Minh) nên theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vẫn tiến hành xét xử.

[3] Sự vắng mặt của Kiểm sát viên: Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh có văn bản thông báo không tham gia phiên toà với lý do vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng Dân sự (Công văn số 01/CV-VKS, ngày 16/7/2025) nên Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về tài liệu, chứng cứ: Căn cứ theo lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình tố tụng và tài liệu, chứng cứ đã nộp tại Tòa án thì toàn bộ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đều hợp pháp. Mặt khác, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, không có yêu cầu phản tố. Toàn bộ tài liệu, chứng cứ nêu trên đã được Tòa án thông báo cho ông N tại Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại các Điều 208, 209 và khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng Dân sự cho nên, bị đơn phải chịu hậu quả pháp lý của việc không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 196 và Điều 199 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì những lý do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn để giải quyết vụ án.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Đình N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là xã X, thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 0000/2005, ngày 21/7/2005 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Quá trình chung sống, bà H và ông N có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong mọi vấn đề của cuộc sống hằng ngày. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần tự hòa giải và thông cảm bỏ qua cho nhau những mâu thuẫn để cùng xây dựng hạnh phúc, nuôi dạy con chung; gia đình hai bên nội, ngoại cũng khuyên can, hàn gắn nhưng không thành. Trái lại, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể khắc phục được nên sau khi bà H sinh con được khoảng 06 tháng thì ông N tự ý rời gia đình đến nơi khác sinh sống; vợ, chồng chính thức ly thân, bỏ mặc nhau và không còn quan hệ gì với nhau về mọi mặt. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông N.

Tại biên bản xác minh về nơi cư trú, tình trạng hôn nhân và con chung giữa bà H và ông N, ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Tòa án xác định: Hiện tại, bà H và ông N không còn chung sống cùng nhau do mâu thuẫn tình nghĩa vợ, chồng. Ông N đã rời gia đình đến sinh sống tại nơi khác từ sau khi bà H sinh con được khoảng 06 tháng cho đến nay; bà H và người con chung hiện vẫn đang ở tại địa chỉ tổ 0, ấp 0, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu (nay là tổ 0, ấp 0, xã X, thành phố Hồ Chí Minh).

Quá trình tố tụng, ông N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng từ chối nhận nên ông N biết rõ Tòa án đang giải quyết yêu cầu ly hôn mà ông được xác định là bị đơn nhưng ông N không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà H, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác. Tại phiên tòa, ông N vắng mặt không có lý do, những điều đó cho thấy bản thân ông N không có nguyện vọng và mong muốn vợ, chồng đoàn tụ.

Từ những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; thực tế xác minh tại địa phương cho thấy bà H và ông N đã sống ly thân từ lâu, thực sự không còn tình nghĩa vợ chồng, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà H và ông N có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 16/6/2005. Con đã thành niên, không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình nên bà H không yêu cầu giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Bà H không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung với ông N nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, vì ông N vắng mặt trong quá trình tố tụng và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà H nên về quan hệ này sẽ được Toà án xem xét, giải quyết khi ông N có yêu cầu và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Về án phí: Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị H ly hôn ông Nguyễn Đình N.

2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết do nguyên đơn không có yêu cầu.

3. Về quan hệ tài sản (tài sản chung và nợ chung): Không xem xét, giải quyết do nguyên đơn không có yêu cầu.

4. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000273, ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu (nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 0 – Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh). Bà H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ