- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Phan Trung T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 8 - 2025 V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Quyến
2. Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Cẩm Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2025 về “tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1983, nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện P, tỉnh H; nay là Ấp N, xã T, thành phố C (đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Trung T, sinh năm 1978, nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện P, tỉnh H; nay là Ấp N, xã T, thành phố C ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Phan Trung T tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ khoảng 02 năm nay, bà đã nhiều lần cho chồng cơ hội hòa giải nhưng đều không thành. Do đó, bà yêu cầu ly hôn với ông Phan Trung T.
Về con chung: Bà và ông Phan Trung T có 03 người con chung là cháu Phan Huỳnh T, sinh ngày 08/02/2008; cháu Phan Huỳnh TV, sinh ngày 02/12/2012 và cháu Phan Huỳnh P, sinh ngày 05/4/2014. Khi ly hôn bà thống nhất giao cả ba người con chung cho ông Phan Trung T nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu giải quyết.
2. Quá trình giải quyết vụ án ông Phan Trung T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Huỳnh Thị H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên bà Huỳnh Thị H yêu cầu ly hôn. Ông xác định vẫn còn thương vợ, thương con nên ông không đồng ý ly hôn. Ông mong muốn vợ cho thời gian để ông chứng minh sự thay đổi và tình cảm dành cho vợ con.
Về con chung: Ông và bà Huỳnh Thị H có 03 người con chung là cháu Phan Huỳnh T, sinh ngày 08/02/2008; cháu Phan Huỳnh TV, sinh ngày 02/12/2012 và cháu Phan Huỳnh P, sinh ngày 05/4/2014. Nếu bà Huỳnh Thị H kiên quyết ly hôn và giao các con cho ông nuôi dưỡng thì ông đồng ý nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu giải quyết.
3. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn là đúng pháp luật; đối với bị đơn chưa chấp hành đúng quy định.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn; về con chung giao cho bị đơn tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự chưa có yêu cầu nên chưa xem xét; về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không xem xét; về án phí hôn nhân gia đình và sơ thẩm buộc nguyên đơn chịu theo quy định pháp luật.
-Về yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm là không có.
3. Các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất:
Thống nhất: Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn; có 03 người con chung do bị đơn đang nuôi dưỡng và thống nhất giao cho bị đơn tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 người con chung; về tài sản chung và nợ chung đều không có.
Không thống nhất: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn; bị đơn không đồng ý ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn, yêu cầu giải quyết về nuôi con. Bị đơn đang cư trú tại ấp N, xã T, huyện P, tỉnh H (nay là xã T, thành phố C). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ.
Về xét xử vắng mặt đương sự: Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đối với nguyên đơn có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt các đương sự.
Về hôn nhân: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H với bị đơn ông Phan Trung T đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2007, tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Thời điểm ông bà đăng ký kết hôn, thì ông bà đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa ông bà được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án, bà Huỳnh Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Phan Trung T. Phía ông Phan Trung T không đồng ý ly hôn nhưng lại không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, từ khi xảy ra mâu thuẫn cho đến nay là một thời gian dài, các bên không thể khắc phục mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc gia đình, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị H là có căn cứ.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị H với ông Phan Trung T có 03 người con chung là cháu Phan Huỳnh T, sinh ngày 08/02/2008; cháu Phan Huỳnh TV, sinh ngày 02/12/2012; cháu Phan Huỳnh Phúc V, sinh ngày 05/4/2016.
Về nuôi con: Cả 03 người con chung đều do ông Phan Trung T đang trực tiếp nuôi dưỡng và ông cũng đồng ý tiếp tục nuôi cả ba người con; Phía bà Huỳnh Thị H cũng thống nhất giao 03 người con chung cho ông T nuôi dưỡng. Xét thấy, ông Phan Trung T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba người con chung và các cháu cũng có nguyện vọng sống cùng ông T. Do đó, để ổn định về tâm lý cũng như sự phát triển toàn diện của con chung nên tiếp tục giao cả ba người con chung cho ông Phan Trung T nuôi dưỡng là có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Người trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 227, 228, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 11, 89, 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 57, 81, 82, 83, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Phan Trung T.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Huỳnh T, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2008; cháu Phan Huỳnh TV, sinh ngày 02 tháng 12 năm 2012; cháu Phan Huỳnh P, sinh ngày 05 tháng 4 năm 2016 cho ông Phan Trung T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Người trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002003, ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tp Cần Thơ - VKSND khu vực 13; - THADS tp Cần Thơ; - UBND xã Thạnh Hòa; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Quyền Trân |