- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa anh Lầu A T + chị Chá Thị N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lầu A T được ly hôn với chị Chá Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 01 - 2025 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Ngọc Phương;
Bà Lường Thị Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐST- HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lầu A T; địa chỉ: Bản N, xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt).
Bị đơn: Chị Chá Thị N; địa chỉ: Bản N, xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2024, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, nguyên đơn anh Lầu A T trình bày:
Về tình cảm: Anh Lầu A T và chị Chá Thị N kết hôn với nhau từ ngày 21/5/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, chị Chá Thị N không quan tâm đến gia đình. Anh Lầu A T và chị Chá Thị N đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay anh Lầu A T và chị Chá Thị N đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh Lầu A T xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Lầu A T yêu cầu được ly hôn với chị Chá Thị N.
Về con chung: Anh Lầu A T và chị Chá Thị N có 02 con chung: Cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, sinh ngày 21/3/2015, cháu Lầu Phi H, sinh ngày 24/12/2018. Nay ly hôn anh Lầu A T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lầu Phi H, cháu Lầu Thuỷ Hoàng S đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu chị Chá Thị N phái cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Cam đoan không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Chá Thị N, chị Chá Thị N không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Do vậy không có lời khai của chị Chá Thị N đối với yêu cầu khởi kiện của anh Lầu A T.
Biên bản xác minh ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về tình trạng hôn nhân của anh Lầu A T và chị Chá Thị N: Anh Lầu A T và chị Chá Thị N đăng ký kết hôn với nhau từ ngày 21/5/2012, tại UBND xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay anh Lầu A T và chị Chá Thị N đã sống ly thân. Nguyên nhân mẫu thuẫn chính quyền không rõ.
Ý kiến của các cháu Lầu Thuỷ Hoàng S: Hiện nay cháu đang sống cùng anh Lầu A T, nay nguyện vọng của cháu muốn được ở cùng anh Lầu A T (bố đẻ của cháu).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn anh Lầu A T nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác.
Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/01/2025 nguyên đơn anh Lầu A T trình bày do bận công việc, nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, anh Lầu A T đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của anh Lầu A T về việc giải quyết vụ án: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với chị Chá Thị N; về con chung: có 02 con chung: Cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, sinh ngày 21/3/2015, cháu Lầu Phi H, sinh ngày 24/12/2018. Nay ly hôn anh Lầu A T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Lầu Phi H, cháu Lầu Thuỷ Hoàng S đến khi các cháu trưởng thành. Không yêu cầu chị Chá Thị N phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết; về nợ chung: Cam đoan không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn anh Lầu A T đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Chá Thị N đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Lầu A T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Chá Thị N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lầu A T được ly hôn với chị Chá Thị N.
Về con chung: Giao các cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, sinh ngày 21/3/2015, cháu Lầu Phi H sinh ngày 24/12/2018 cho anh Lầu A T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Chá Thị N không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn anh Lầu A T khởi kiện ly hôn với bị đơn chị Chá Thị N có địa chỉ tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Lầu A T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Chá Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, chị Chá Thị N vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Lầu A T, bị đơn chị Chá Thị N.
. Về quan hệ hôn nhân:
Anh Lầu A T và chị Chá Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La vào ngày 21/5/2012, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện nay anh Lầu A T và chị Chá Thị N đã sống ly thân. Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại chính quyền địa phương xác nhận anh Lầu A T và chị Chá Thị N có phát sinh mâu thuẫn, đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay anh Lầu A T và chị Chá Thị N đã sống ly thân. Chị Chá Thị N đã được Toà án thông báo hợp lệ để lấy lời khai và hoà giải, chị Chá Thị N không có mặt, do vậy Toà án không có lời khai và không tiến hành hoà giải được, điều này chính tỏ chị Chá Thị N không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa anh Lầu A T và chị Chá Thị N tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho anh Lầu A T được ly hôn với chị Chá Thị N. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung:
Anh Lầu A T và chị Chá Thị N có 02 con chung: Cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, sinh ngày 21/3/2015, cháu Lầu Phi H, sinh ngày 24/12/2018. Nay ly hôn anh Lầu A T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lầu Phi H, cháu Lầu Thuỷ Hoàng S đến khi các cháu trưởng thành. HĐXX xét thấy hiện nay các cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, cháu Lầu Phi H đang sống cùng anh Lầu A T (bố đẻ), cuộc sống của các cháu đã ổn đinh. Nguyện vọng của cháu Lầu Thuỷ Hoàng S muốn được ở với anh Lầu A T (bố đẻ). Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên cũng như nguyện vọng của con trên 7 tuổi. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của anh Lầu A T. Giao cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, sinh ngày 21/3/2015, cháu Lầu Phi H, sinh ngày 24/12/2018 cho anh Lầu A T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Anh Lầu A T không yêu cầu chị Chá Thị N phải cấp dưỡng nuôi con chung, cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn chị Chá Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
. Về nợ chung: Cam đoan không có.
. Về án phí: Anh Lầu A T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, anh Lầu A T có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Miễn nộp toàn bộ án phí dân sư sơ thẩm cho anh Lầu A T
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lầu A T được ly hôn với chị Chá Thị N.
2. Về con chung: Anh Lầu A T và chị Chá Thị N có 02 con chung: Cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, sinh ngày 21/3/2015, cháu Lầu Phi H, sinh ngày 24/12/2018
Giao cháu Lầu Thuỷ Hoàng S, sinh ngày 21/3/2015, cháu Lầu Phi H, sinh ngày 24/12/2018 cho anh Lầu A T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng: Chị Chá Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về nợ chung: Không có.
6. Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh Lầu A T. Anh Lầu A T được hoàn lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo biên lai thu số: 0001863, ngày 24/10/2024.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Lầu A T; bị đơn chị Chá Thị N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND h.Thuận Châu ( 2 bản ); - UBND xã PL, h.Thuận Châu, - Chi cục THADS huyện Thuận Châu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |